Thursday, December 4, 2014

Ra đi

                                                                        (Tặng anh Ch.)
Không có gì tuyệt hơn khi được bắt đầu những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết mới trên đồi cỏ lộng gió bên bến du thuyền Berkeley vào một ngày hè. Tôi thích đặt bút viết những dòng chữ mới trên trang giấy trắng tinh trong cái khoái cảm dịu dàng được mang đến bởi những ngọn cỏ úa vàng dưới cơn nắng chói cọ vào chân, những cơn gió ẩm ướt sung sức tạt ngang má mát lạnh. Mùa hè Berkeley luôn quyến hoặc tôi bởi sự trộn lẫn độc đáo của cái nắng bỏng da và những cơn gió lạnh se thổi vào từ bờ Vịnh. Đó là lí do mà vào những mùa hè có ý định khởi thảo một cuốn sách mới, tôi luôn chọn đến ở Berkeley chừng 3 tháng, chỉ để ra ngồi đồng ở cái công viên ngay bên cạnh bến du thuyền này và viết. Dù đã có lí do hẳn hoi song mỗi lần quay lại Berkeley, tôi vẫn không khỏi băn khoăn và cố gắng tìm thêm lời biện giải nào khác cho việc trở đi trở lại đúng một địa danh của mọi sự khởi đầu viết lách quan trọng. Thực tình, đó là điều gần như không thể lí giải nổi với tôi - một gã đã quen sống lang bạt kì hồ suốt nửa đời người, luôn luôn tìm kiếm niềm vui và cảm hứng trong những hành trình ngẫu hứng chưa bao giờ kết thúc. Ngay cả thành phố Florence xinh đẹp quê hương tôi cũng không thể níu giữ đôi chân cuồng đi và trái tim khát mới của tôi.
Lần đầu tiên tôi đi xa là chuyến hành trình đến Mỹ từ 25 năm trước với ý định tìm lại người cha chưa một lần biết mặt của tôi (hay nói đúng hơn là người tình thất lạc của mẹ tôi). Hơn 40 năm trước, mẹ tôi - một cô tiểu thư con nhà quyền quý đi du lịch bằng tàu biển cùng cha mẹ đến thành phố San Francisco rồi nằng nặc đòi ở lại đây vì muốn được hoà vào đám đông hippie trẻ tuổi say sưa trong âm nhạc và những vũ điệu tự do ở quận Haight-Ashbury. Rồi bà hiến dâng tình yêu si mê đầu đời cho một gã hippie người Texas - xứ sở của những chàng cao bồi. Khi biết mẹ tôi mang trong mình giọt máu cao bồi, gã đàn ông của bà đã dứt áo ra đi, không đợi mẹ tôi kịp tận hưởng ý nghĩ sung sướng về việc được làm mẹ và chút khoái cảm còn vương vất sau một đêm làm tình mệt nhoài với người yêu. Thế mà bà không hề hận cha tôi. Mỗi lần nhắc đến ông, bà luôn bảo rằng bà hiểu sự ra đi của ông và chấp nhận rằng, người đàn ông của bà tôn thờ tự do, hiến dâng đời mình cho tự do. Năm đó, mẹ tôi 18 tuổi. Bà sinh tôi ra ở ngay giữa trung tâm của những người hippie và đặt tên tôi là Francisco. 2 năm sau, ông bà nội tôi cương quyết kéo mẹ tôi về Ý để tiện chăm sóc tôi và để mẹ tôi quay trở lại trường học. Bà ở vậy nuôi tôi và vẫn luôn kể về người đàn ông tự do của bà cho tôi nghe vào những ngày mùa hè rực nắng - những ngày dễ gợi nhắc đến Summer of Love xa xưa trong tuổi trẻ của bà. Tôi nhớ dáng mẹ tôi ngồi bên hàng hiên, trong chiếc váy hoa thắt eo, mắt sáng bừng long lanh theo từng lời hát bà lẩm nhẩm suốt ngày, đến độ tôi đã thuộc lòng từ tuổi bé thơ:
For those who come to San Francisco
Summertime will be a love-in there
In the streets of San Francisco
Gentle people with flowers in their hair[1]
Năm 18 tuổi, khi tôi ngỏ ý sang Mỹ tìm cha, mẹ tôi thảng thốt nhìn đứa con trai gầy gò nhưng có đôi mắt sáng và cái xương hàm vuông vắn hệt người đàn ông cao bồi của bà, rồi cười buồn nói với tôi: đã đến lúc rồi, con cứ đi đi. Cứ như thể bà đã biết trước rằng, đến một ngày, tôi sẽ rời xa bà và bắt đầu cuộc đời lang bạt. Bà đoán không sai, từ cái ôm tạm biệt với mẹ tôi năm 18 tuổi, tôi đã bắt đầu những chuyến lang thang vô định của đời tôi. Và tôi bắt đầu viết.
***
Tôi thường chọn ngồi bên sườn đồi, hướng nhìn ra phía Vịnh San Francisco, xa xa là cây cầu Cổng Vàng ẩn hiện trong mây. Thay vì ngồi trong những quán café thơm tho, tiện nghi, tôi chọn ngồi viết ở công viên, trong nắng gió, trong tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim ríu rít và tiếng trẻ con nô đùa. Ở đó, tôi thấy tôi tự do và không bị ai làm phiền (dù là những sự làm phiền hết mực tử tế, ví như cậu bồi bàn hỏi tôi có cần thêm café không?). Thay vì viết bằng máy tính, tôi chọn lối viết lách cũ kĩ thô sơ bằng bút mực và giấy trắng. Sau nhiều năm lang thang, tôi nghiệm ra rằng, càng giản tiện, càng tự do. Với một cuốn sổ dày và vài ba cây bút, tôi có thể ngồi lì ở công viên từ sáng sớm đến chiều muộn mà không phải lo máy tính hết điện, không sợ lũ chim xấu chơi bay qua ị cho một bãi ngay giữa bàn phím. Rõ ràng, với bút và giấy, tôi tự do hơn những người gõ bàn phím nhan nhản quanh tôi. Và cũng với bút và giấy, tôi được hưởng thụ đặc quyền quay trở lại với những ý nghĩ từng bị gạch xoá trong quá khứ. Không ít lần, tôi quay ngược lại những dòng chữ bị dập xoá thê thảm trong một cơn bí bức ngôn từ và cảm hứng nào đó để rồi bắt lại được mạch viết, nuôi dưỡng được một cành nhánh mới cho câu chuyện dang dở. Đấy là chưa kể đến cảm giác tuyệt diệu khi thấy những cảm xúc của mình được vật chất hoá tức thì qua cái miết chặt của những ngón tay vào cây bút.
Thường thì một khi đã bắt đầu, tôi ít khi ngưng viết cho đến khi tay mỏi nhừ vì tì miết quá mạnh. Viết suốt nửa đời người mà tôi vẫn không nhớ được một kinh nghiệm sơ đẳng rằng càng lên gân, tôi càng viết chậm và càng trở nên cuống quýt sợ hãi những ý nghĩ sẽ rời bỏ tôi trước khi tôi bắt kịp chúng. Thực tế là khi bắt đầu một cơn hứng khởi, tôi hầu như quên tiệt mọi bài học và kinh nghiệm. Tôi lại nguyên sơ như giấy, lại ngốc nghếch mắm môi mắm lợi dồn hết sức lực vào bàn tay phải để giải thoát nguồn cảm hứng đang cuồn cuộn trong lòng, quên béng rằng cứ lên gân như thế độ dăm phút là những ngón tay tôi trở nên tê cứng. Trong một lần dừng viết bởi một cơn tê tay như thế, tôi ngước mắt nhìn lên và thấy nàng. Tôi chạm phải ánh mắt nàng và ngay lập tức, nàng nở một nụ cười đáp trả. Nàng có khuôn mặt trẻ thơ và nụ cười bừng sáng, giống hệt như nụ cười của cô bé con đi bên cạnh nàng. Hình như cô bé con tò mò chỉ trỏ người đàn ông ngồi viết một mình bên cái bàn bé xíu kì quặc khi họ bước ngang qua tôi và nàng đang cố lôi kéo cô con gái ngây ngô đi sang hướng khác. Nụ cười hàm ý thông cảm của nàng đáng yêu đến nỗi tôi cứ ngây ra nhìn cho đến khi hai mẹ con họ đi xa dần.
Những ngày sau đó, tôi bắt đầu để ý hơn đến xung quanh trong những lần dừng bút vì tê mỏi. Và hầu như ngày nào, tôi cũng thấy hai mẹ con nàng vào đầu giờ chiều. Chắc là họ vẫn thường đến đây nhưng tôi chưa bao giờ để ý. Nàng hay mặc những chiếc quần lụa thẫm màu có vẽ hoặc thêu hoa văn lạ mắt cùng những chiếc áo thun bó, để lộ cái eo thon nhỏ và vòng hông nở gợi cảm. Cô con gái chừng 3,4 tuổi hay thắt bím tóc hai bên, trông lí lắc đáng yêu khi đi bên mẹ. Mẹ con nàng thường đi dạo dưới chân đồi và thi thoảng, cô con gái nghịch ngợm bất thình lình trèo ngược lên đồi để nàng mướt mải đuổi theo, cười váng động trong nắng chiều. Ngồi ở sườn đồi mỗi ngày, tôi đã nhiều bận ngắm hai mẹ con họ say sưa đến buông rơi cả bút. Nhân một hôm nản lòng vì gạch xoá quá nhiều, tôi quyết định vứt bút giấy qua một bên, đứng dậy bắt chuyện với mẹ con nàng. Đang ngồi ăn vặt với con gái, nàng ngước nhìn tôi vẫn với nụ cười rạng rỡ như đã sẵn sàng cho cuộc làm quen này từ lâu lắm: Chào anh! Anh không viết nữa à? Tôi lắc đầu, than thở rằng hôm nay là ngày quái quỷ gì mà tôi chỉ ngồi gạch xoá chứ không viết nổi chữ nào. Nàng cười an ủi: gạch xoá cũng là việc cần làm mà. Không biết cách vào chuyện tự nhiên hay đôi mắt lúc nào cũng lấp loá nắng và đôi môi cong luôn chực sẵn nụ cười của nàng khiến tôi bị thu hút. Tôi say sưa tán chuyện trên trời dưới biển với nàng mất một lúc mới nhớ ra chưa hỏi tên.
-       Xin lỗi, chị tên gì nhỉ?
-       Liên. Còn anh?
-       Lyann?
- Không, Liên, trong tiếng Việt nghĩa là hoa sen. Chắc là hơi khó cho anh nhỉ, anh cứ gọi tôi là Lyann cũng được. Cái tên cũng đâu quan trọng gì, phải không?
- Ừ, chị nói cũng phải, nhưng tôi sẽ nhớ tên chị nghĩa là hoa sen. Rất đẹp và rất hợp với chị!
Nàng lại cười, mái tóc đen nhánh xoã ngang lưng tuôn trong gió như một mảnh lụa mềm.
         Sau buổi hôm đó, ngày nào tôi cũng tự cho phép mình dành riêng vài ba chục phút chuyện gẫu với Liên. Nàng lớn lên ở Sài Gòn, trong một gia đình nghèo đông con, cha mẹ gây gổ đánh lộn suốt ngày chỉ vì chuyện tiền bạc. Một lần giúp người quen đứng bán hàng lưu niệm trên đường Đồng Khởi vào dịp nghỉ hè, nàng tình cờ gặp một chàng trai người Mỹ vừa tốt nghiệp đại học sang Việt Nam du lịch. Anh chàng người Mỹ mê say cô gái Việt Nam nhỏ bé có nước da nâu giòn đến độ quyết cưới cô làm vợ chỉ sau vài tháng quen biết. Nàng nhận lời cầu hôn chóng vánh của gã trai tóc vàng mắt xanh trong men say tình đầu choáng váng và nỗi khát khao được trốn chạy khỏi ngôi nhà xiêu vẹo bởi dấu ấn những cơn bạo hành của cha mẹ. Năm đó, Liên 18 tuổi. Anh ấy là người đàn ông đầu tiên và duy nhất của tôi. Một người đàn ông hoàn hảo. Liên kể về chồng với một vẻ biết ơn nhẫn nại. Chồng nàng làm nghề kiến trúc sư và rất có tài, theo như lời Liên kể. Sau khi đưa cô vợ da vàng mũi tẹt tuổi mới lớn lơ ngơ sang Mỹ, chồng Liên giúp nàng học cao đẳng ngành kinh tế mà nàng đã chọn bừa trong lúc chưa xác định được mình muốn gì. Tốt nghiệp rồi, Liên mới nhận ra là nàng không thích ngành kinh tế. Trong lúc phân vân về nghề nghiệp, nàng có bầu và lãnh nhận thiên chức làm mẹ tự nhiên, tạm quên đi việc phải tìm một công việc gì đó cho chính mình. Gần 10 năm ở Mỹ, thế giới của Liên hầu như chỉ gói gọn trong hai chữ gia đình. Nàng ở nhà chăm sóc con cái và làm một cô vợ ngoan, tận hưởng những yêu chiều của anh chồng giỏi giang nhưng bận rộn.
Nếu không gặp anh ấy, chắc giờ này tôi đang đứng bán hàng ở một tiệm tạp hoá nào đó ở Việt Nam, như mẹ tôi và các chị tôi. Liên ngậm ngùi nói, mắt nhìn bâng quơ về phía những gợn sóng lấp loá dưới nắng ngoài vịnh. Rồi đột nhiên, nàng hất mớ tóc qua bên vai, ngoảnh sang nhìn tôi, cười: Anh ấy là ông Bụt của đời tôi. Một ông Bụt yêu say đắm cô gái nghèo mà ông ấy đã giúp. Tôi chăm chắm nhìn đôi môi cong vừa mấp máy nói vừa nhếch lên cười của nàng, toan thốt lên: Dĩ nhiên là ông Bụt ấy phải yêu em rồi! Một người đẹp như em, không ai muốn bỏ qua, kể cả Bụt! Rồi tôi bị cái nhìn chiếu tướng của Liên làm cho bối rối, bèn nuốt vội ý nghĩ bằng một cái đằng hắng vu vơ.
- Vì sao anh chạy trốn? Một lần, Liên hỏi tôi khi nghe tôi kể chuyện tôi đã sang Mỹ như thế nào.
- Tôi đâu có chạy trốn? Tôi phản ứng. Tôi đã ra đi, bắt đầu từ một sự kiếm tìm đấy chứ!
- Nhưng anh đã không tìm thấy ông ấy, đúng không? Hoặc là anh chưa từng thực sự tìm kiếm? Liên vẫn vặn vẹo. Nàng thông minh đến mức nhiều lúc khiến tôi không kịp xử trí. Tôi ừ hữ trong cơn kinh ngạc ngấm ngầm về câu hỏi bén ngọt của nàng, rồi cố tình lái câu chuyện sang hướng khác: Thực ra, bây giờ, tôi đi là để viết…
- Viết cũng là một cách trốn chạy đấy thôi, anh không nghĩ thế sao?
Lần này, tôi chọn cách im lặng. Tôi không muốn chấp nhận sự thật rằng tôi đang trốn chạy, dù trong thâm tâm, tôi biết nàng đã đúng. Tôi đi tìm cha ư? Không, tôi chỉ đang cố gắng trốn chạy khỏi những ý nghĩ về người cha mà mẹ tôi vẽ nên cho tôi. Tôi đi tìm kiếm cảm hứng ư? Không, tôi chỉ đang trốn chạy những điều cũ kĩ đang lan dần trong từng huyết mạch của tôi, trốn chạy những buông xuôi mỏi mệt của tâm hồn đang già nua đi không cách nào cứu vãn nổi mà thôi. Tôi đang đi tìm kiếm tự do ư? Không, tôi chỉ đang trốn chạy những ràng buộc đời thường bằng những chuyến đi vô định. Những ý nghĩ sắc nhọn của nàng đâm tôi trọng thương. Làm sao một người đàn bà trẻ lại có thể hiểu tôi đến thế, chỉ qua những câu chuyện bâng quơ ở công viên sau vài tháng trời quen biết?
***
Ba tháng hè ở Berkeley đã trôi qua trong niềm kinh ngạc và hưng phấn tột độ của tôi, bởi tôi nhận ra tôi đã bồn chồn buông bút chờ Liên vào đầu giờ chiều hàng ngày. Những câu chuyện phiếm với nàng đẩy tôi đến những đỉnh cao hứng khởi và tôi đã viết say sưa dưới nắng chiều, sau mỗi mấy chục phút nghỉ giải lao nói chuyện với nàng. Dĩ nhiên, Liên không hề hay biết, nàng đã khiến cuốn sách của tôi có những trang viết trác tuyệt nhường nào cũng như nàng không bao giờ biết tôi đã mơ thấy nàng hằng đêm ra sao.
Một hôm, vào những ngày cuối cùng còn lại ở Berkeley của tôi, nàng rụt rè đề nghị tôi được đọc vài trang bản thảo của cuốn tiểu thuyết tôi đang viết dở. Tôi cười, bảo rằng đó là việc chưa từng có trong tiền lệ, trong lòng nảy ra một nỗi ngờ vực: chẳng nhẽ, nàng thông minh đến độ đoán được rằng, trong cuốn tiểu thuyết mới của tôi có bóng dáng nàng chăng? Có thể lắm! Như đoán ra ý tôi, nàng phân bua: Từ lâu, tôi chỉ muốn đọc một cái gì mới ráo mực và còn trong vòng bí mật. Tình cờ được đánh bạn với một nhà văn, tôi đã nghĩ biết đâu tôi có cơ hội thoả nguyện ước mong! Mà này, chúng ta là bạn, phải không? Tôi mỉm cười: ừ, là bạn. Và tôi sẽ phá lệ cho chị đọc vài trang ngay tại đây, ngay bây giờ. Nàng reo lên thích thú như một đứa trẻ, rồi trong khi tôi nói chuyện với cô con gái nhỏ của nàng, nàng chăm chú đọc. Thi thoảng liếc sang, tôi thấy sắc mặt nàng đổi thay lạ lùng. Cái vẻ hạnh phúc mãn nguyện tràn trề tôi vẫn thấy bỗng dưng biến mất, thay vào đó là một nỗi gì đau đáu, phảng phất chút buồn bã, tiếc nuối… Hình như, tôi đã cho nàng đọc đúng những trang viết về sự đi. Khi Liên ngẩng mặt lên khỏi mấy trang giấy, tôi thoáng thấy một giọt nước mắt trên khoé mi nàng. Liên im lặng nhìn ra phía cây cầu Cổng Vàng rồi nói với tôi mà như thể đang nói với gió: Rất đẹp! Rất thúc giục… Rồi nàng làm điệu bộ hất tóc qua vai quen thuộc trước khi quay sang tôi, nở nụ cười sáng rỡ quen thuộc, hỏi: Ngày kia anh sẽ đi phải không, Francisco? Tôi gật, đầu vẫn u u nghĩ về giọt nước mắt của nàng.
Ngày hôm sau, tôi đến công viên ngồi nhưng không viết gì, dù giấy bút vẫn bày ra trước mặt. Tôi quá sốt ruột chờ đợi Liên nên không thể cầm nổi bút. Rồi nàng đến, đúng 1:30’ chiều như lệ thường, không sớm hơn, không trễ hơn một phút. Hôm đó, nàng mặc một chiếc váy lụa xanh thẫm màu lá cây dài chấm gót và một cái áo thun dài tay màu trắng. Màu váy áo của nàng làm tôi nghĩ đến những đoá sen trắng xanh tôi vẫn hay mơ thấy. Nàng ùa đến chào tôi, rồi nói trong hơi thở gấp, vẻ hồi hộp: Anh đây rồi, tôi chỉ tranh thủ chạy ra chào tạm biệt vì hôm nay tôi phải về sớm đưa con đi tiêm phòng. Không đợi tôi trả lời, nàng giúi vào tay tôi một cái hộp nhỏ, thắt nơ hồng: Quà cho anh. Hãy đọc nhé! Đây là những gì tôi tự viết cho mình sau những đêm mộng mị triền miên. Cũng là những thứ bí mật chưa ai từng được đọc. Tôi mấp máy nói cảm ơn và không cưỡng được ôm chầm lấy nàng. Khi cảm thấy thân thể mảnh mai của nàng trong vòng tay cũng là lúc một thứ cảm xúc mãnh liệt cuộn lên trong lồng ngực tôi và ý nghĩ phải quay lại Berkeley kéo đến trong đầu, tôi nói với Liên: Tôi sẽ quay lại. Mùa hè chưa hết, vẫn chưa hết, phải không? Nàng thầm thì qua vai: Phải rồi, còn mùa hè Ấn Độ nữa…
Tôi sẽ về Ý thăm mẹ tôi chừng một tháng, rồi tôi sẽ quay lại, tận hưởng nốt mùa hè rớt ở Berkeley. Chị sẽ vẫn đi công viên giờ này chứ? Tôi sẽ gặp lại chị phải không? Tôi nói nhanh, tránh nhìn vào mắt Liên vì sợ sẽ bị cái nhìn như chiếu tướng của nàng làm bối rối đến độ phải nuốt ngược những điều muốn nói vào trong. Làm ra vẻ không để ý lắm đến trạng thái xúc động khác thường của tôi, Liên nắm tay tôi, mím môi cười tạm biệt: Chúc anh may mắn với cuốn sách mới. Đi được mấy bước, nàng ngoái lại nhìn tôi rồi nói: Tôi nghĩ, tôi cũng muốn làm một người viết như anh. Nụ cười rạng rỡ của nàng tan trong nắng chiều.
***
Tôi không ngờ rằng, đó là lần cuối cùng tôi gặp Liên. Nàng đã không đếm xỉa gì đến cái hẹn quay trở lại của tôi. Mà lẽ ra, tôi phải đoán ra điều đó chứ, lẽ ra tôi phải biết khi đọc những dòng nàng đã viết và chia sẻ với tôi trong cái hộp nhỏ nàng tặng tôi chiều hôm đó:
Có những ban mai, tôi thức dậy bằng ánh sáng của hoài nghi - thứ ánh sáng rùng rợn giết chết mọi tế bào yêu sống. Tôi thấy mình nằm đó, trong cái miệng đen ngòm của con quái vật mang tên Tuyệt Vọng. Nó đã ngoạm lấy tôi như thế nào và từ bao giờ, tôi không hay. Có lẽ nó đã chọn nuốt chửng tôi ngay trong giấc ngủ - khi tôi yếu đuối nhất và cô đơn nhất, giữa những giấc mơ phập phồng âu lo, giữa những hoài cảm hoang mang của biết bao lần dấn thân từ ngày mới lớn, giữa mê man những cơn đau tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức bỗng thức dậy nhức nhối thịt da. Nó đã ngoạm lấy tôi giữa bóng tối lặng im - khi tôi nhắm mắt trút bỏ mọi xiêm y, trang sức để trần truồng trong từng ý nghĩ.
Có những ngày, những ý nghĩ đẹp đẽ về tình yêu và hạnh phúc bỏ mặc tôi hoàn toàn cho cái miệng tối âm u của Tuyệt Vọng. Tôi thấy tôi nằm đó, không chút sức lực kháng cự, bởi manh giáp tự vệ tôi cũng đã cởi bỏ mất rồi. Tôi đau đớn nhận ra hạnh phúc sợ hãi trốn trong chiếc áo giáp tôi vẫn mặc hàng ngày, và nó rời bỏ tôi khi tôi trút bỏ manh giáp ấy trước khi chìm sâu vào cơn ngủ. Hoá ra, hạnh phúc thuộc về tấm áo giáp tôi hằng mang chứ không thuộc về tôi. Hoá ra, tôi vẫn là tôi - trơ trọi buồn sầu nguyên thuỷ.
Có những ngày, tôi thức dậy, ngờ vực cả mặt trời.
Nàng đã viết như thế và cho tôi đọc, thế mà tôi không hiểu ra. Ngu ngốc làm sao! Lẽ ra, tôi không nên tặc lưỡi bỏ qua những giấc mơ khiến tôi ngộp thở nhiều đêm ở Florence - những giấc mơ dày đặc những đoá sen trắng xanh và tóc, và mắt, và môi nàng. Lẽ ra, tôi không nên gạt bỏ ý nghĩ đã từng thiêu đốt tôi mỗi sáng sớm thức dậy ở Florence, rằng phải quay lại Berkeley ngay lập tức. Lẽ ra, tôi phải biết, nàng sẽ làm như thế ngay từ buổi chiều chào tạm biệt ấy, khi nàng nói rằng nàng cũng muốn làm một người viết như tôi. Bao nhiêu dấu hiệu, bao nhiêu ám chỉ, thế mà tôi ngớ ngẩn không nhận ra. Cái thằng tôi ngu ngốc chỉ nhận ra nàng không còn ở đó nữa khi đã quay lại công viên bến du thuyền Berkeley sau ba tuần trời ruột gan như lửa đốt ở quê nhà. Suốt một tuần đến công viên ngồi đằng đẵng đợi mà không thấy bóng nàng đâu, tôi vẫn tự nhủ rằng chắc nàng đi nghỉ, vả lại, tôi đã hẹn nàng quay lại sau 1 tháng, chứ không phải 3 tuần. Tôi đành tự khuây khoả mình bằng việc đọc những gì nàng viết. Nhưng càng đọc, tôi càng thấy lo sợ. Cho đến buổi sáng đầu tiên sau 1 tháng trời xa cách, khi ăn một cú đấm thôi sơn vào mặt, tôi mới hoảng hốt nhận ra điều tôi lo sợ đã biến thành sự thật. Nàng đã bỏ đi.
         Sáng hôm đó, đang ngồi trầm ngâm nhìn ra Vịnh, tôi giật mình nghe tiếng hỏi giật giọng: Anh là Francisco phải không? Vừa mới ngước nhìn lên và trả lời: à, vâng theo quán tính, chưa kịp định thần thì tôi đã thấy mình bị túm cổ áo quăng sang một bên. Rồi tôi lãnh trọn một cú đấm như trời giáng vào mặt.
         Vợ tôi đâu? Liên đâu? Gã đàn ông tóc vàng, mắt xanh cao lớn, điển trai gầm gừ hỏi tôi. Nghe đến tên nàng, tôi bật dậy, quên cả cơn đau buốt bên mang tai vì cú đấm, hỏi dồn: Cô ấy đâu? Anh là chồng của cô ấy phải không? Cô ấy bỏ đi ư? Đang hùng hổ, nghe thấy tôi hỏi dồn với một vẻ ngơ ngác tuyệt đối, gã đàn ông bỗng oà lên nức nở: Anh là ai? Sao cô ấy lại bảo tôi đến gặp anh để biết lí do cô ấy ra đi? Tôi sững người. Trời ơi, hoá ra, nàng phó thác gánh nặng này cho tôi bằng món quà chia tay. Nàng bắt tôi đọc những gì nàng viết để giải thích với chồng nàng về những ẩn dụ, những ám chỉ đầy ẩn ức trong những giấc mơ của nàng. Tôi giận dữ nghĩ đến nàng, nghĩ đến cái ý tưởng quay lại Berkeley chỉ vì nàng của tôi. Sao mà tôi ngu ngốc thế?
          Mất một lúc, tôi mới bình tĩnh lại để ngồi xuống bên cạnh anh chồng tội nghiệp của nàng, cố gắng giải thích thật rành rẽ những gì nàng đã viết. Có vẻ như anh ta không hiểu gì, vẫn luôn miệng hỏi: Tôi đã làm gì sai? Tôi rất yêu cô ấy. Tôi chỉ muốn bao bọc, che chở cô ấy, muốn cô ấy được hạnh phúc. Sao cô ấy lại rời bỏ tôi, rời bỏ mái ấm gia đình? Xem chừng mọi lí giải đều vô nghĩa trước nỗi đau, tôi thở dài nói với anh ta: Đối với cô ấy, hạnh phúc cũng chỉ là một thứ ràng buộc. Có bao giờ anh nghĩ rằng, cô ấy cảm thấy ngột ngạt trong chính cái hạnh phúc nhỏ nhoi của mình không? Liên từng bảo tôi rằng, anh là ông Bụt của cô ấy. Có lẽ, giờ là lúc cô ấy muốn bước ra khỏi thế giới cổ tích, để tự đương đầu, tự khám phá. Hãy cho cô ấy thời gian, rồi cô ấy sẽ quay về…
         Rồi cô ấy sẽ quay về… - tôi ái ngại nói với chồng Liên, ngập ngừng bỏ lửng vế câu tiếp theo. Tôi nuốt vội cái ý nghĩ rằng Liên sẽ quay về khi nàng đã leo lên cái đỉnh cô đơn chất ngất của tự do vì những âm thanh phản kháng vọng lại từ chính trái tim tôi. Hơn 40 chục năm hầu như cô độc trên cõi đời này, tôi vẫn chưa bao giờ có ý nghĩ quay về, thế thì tại sao tôi dám trao cái hi vọng hão huyền đó cho chồng nàng. Giờ thì tôi hiểu, vì sao Liên đã biết rằng cả đời tôi là một cuộc trốn chạy. Thì ra, vì nàng cũng đã ấp ủ giấc mơ chạy trốn như tôi. Thì ra, nàng cũng là cái giống cuồng tự do như tôi.
***
Giờ này, không biết Liên đang ở chân trời góc bể nào. Chắc nàng không hay biết rằng, sự ra đi của nàng đã neo tôi lại Berkeley. Tôi quyết định ở lại, ngày ngày vẫn ra ngồi ở bến du thuyền để viết. Và chờ nàng. Giờ thì tôi bắt đầu tin, số mệnh đã khiến tôi chọn Berkeley làm nơi quay trở lại. Vì nàng đã ở đó chờ tôi từ trước khi quen biết tôi, để tiếp sức cho giấc mơ tự do huyễn hoặc của đời tôi, khi tôi đã bắt đầu mỏi gối chồn chân lê bước khắp thế gian. Nàng đang ở đâu đó, bước thay tôi những bước chân độc hành tự do tuyệt đối.
                                                Nguyễn Thị Thanh Lưu, 3/12/2014




[1] Bài hát San Francisco (Be sure to wear flowers in your hair) được viết bởi John Phillips và hát bởi Scott McKenzie năm 1967

Monday, December 1, 2014

Có những ngày như thế...

Có những ban mai, tôi thức dậy bằng ánh sáng của hoài nghi - thứ ánh sáng rùng rợn giết chết mọi tế bào yêu sống. Tôi thấy mình nằm đó, trong cái miệng đen ngòm của con quái vật mang tên Tuyệt Vọng. Nó đã ngoạm lấy tôi như thế nào và từ bao giờ, tôi không hay. Có lẽ nó đã chọn nuốt chửng tôi ngay trong giấc ngủ - khi tôi yếu đuối nhất và cô đơn nhất, giữa những giấc mơ phập phồng âu lo, giữa những hoài cảm hoang mang của biết bao lần dấn thân từ ngày mới lớn, giữa mê man những cơn đau tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức bỗng thức dậy nhức nhối thịt da. Nó đã ngoạm lấy tôi giữa bóng tối lặng im - khi tôi nhắm mắt trút bỏ mọi xiêm y, trang sức để trần truồng trong từng ý nghĩ.
Có những ngày, những ý nghĩ đẹp đẽ về tình yêu và hạnh phúc bỏ mặc tôi hoàn toàn cho cái miệng tối âm u của Tuyệt Vọng. Tôi thấy tôi nằm đó, không chút sức lực kháng cự, bởi manh giáp tự vệ tôi cũng đã cởi bỏ mất rồi. Tôi đau đớn nhận ra hạnh phúc sợ hãi trốn trong chiếc áo giáp tôi vẫn mặc hàng ngày, và nó rời bỏ tôi khi tôi trút bỏ manh giáp ấy trước khi chìm sâu vào cơn ngủ. Hoá ra, hạnh phúc thuộc về tấm áo giáp tôi hằng mang chứ không thuộc về tôi. Hoá ra, tôi vẫn là tôi - trơ trọi buồn sầu nguyên thuỷ.
Có những ngày, tôi thức dậy, ngờ vực cả mặt trời.

Sunday, November 30, 2014

Lan man chuyện mua sắm

Trước khi quen biết và giao du với cô bạn là một shopaholic - một người nghiện mua sắm thứ thiệt, tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về việc mua sắm một cách nghiêm chỉnh. Đi với bạn nhiều, tôi cũng vỡ lẽ ra được đôi điều về văn hoá mua bán. Hồi ở Việt Nam, tôi thích đi mua sắm một mình để đỡ mất thời gian, cần gì thì cứ thế cắm cúi mà mua cho xong việc. Mua sắm đa phần là việc cần làm chứ chẳng phải là niềm vui thích gì, đấy là chưa kể đến nỗi nơm nớp lo sợ ra chợ bị ăn mắng, vào cửa hàng bị ăn nguýt (thế mới có chuyện đi mua sắm cũng phải căn giờ sao cho đừng phải làm người mở hàng!).
Cô bạn tôi quan niệm việc mua sắm hoàn toàn khác. Đối với cô, mua sắm là một thú vui lành mạnh, vì nó “thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu” (như lời cô nói đùa mỗi lần tôi phàn nàn cô mua sắm quá tay). Có lẽ cũng vì quan niệm như thế nên cô có những nguyên tắc rất rõ ràng khi đi mua sắm.
Một lần, tôi cùng cô bước vào một cửa tiệm thời trang quen thuộc (mà hầu như tuần nào cô cũng ghé). Như thường lệ, chúng tôi xem váy vóc, áo quần, trang sức và cô bạn tôi lựa được mấy món cô ưng ý. Dù không khuyến khích bạn mua sắm quá tay, nhưng hôm đó tôi đã nhiệt liệt ca ngợi chiếc đầm mà cô chọn, vì nó quả thực rất đẹp, hợp mốt và hợp với dáng người cô. Bình thường, chỉ cần tôi gật gù chứ không chau mày, nhăn trán là cô bạn đã quyết mua hàng rất lẹ, nhưng hôm đó, tôi kinh ngạc thấy cô quả quyết bỏ lại tất cả đám váy áo đã mất công lựa chọn, mặc vào cởi ra soi ngắm trước gương. Lúc bước ra khỏi cửa tiệm, không đợi tôi bày tỏ sự ngạc nhiên bằng một tràng câu hỏi đã thủ sẵn trong đầu, cô nghiêm nghị bảo: “từ giờ, mình sẽ không bao giờ mua đồ ở cửa tiệm đó nữa. Nếu lỡ hôm nào mình quên, bạn nhớ nhắc mình nhé! Cô nhân viên bán hàng mới ở đó rất kênh kiệu, không niềm nở chào đón khách, cũng không giúp đỡ khách và tỏ thái độ coi thường. Đây là lần thứ 2 mình chứng kiến cô ta cư xử như thế và mình không đời nào giúp cô ta kiếm thêm tiền với cái kiểu thái độ như vậy, dù đúng như bạn nói, chiếc đầm đó rất đẹp và mình rất thích nó”.
À, hoá ra là thế! Cô bạn tôi không muốn mua chiếc váy và những món đồ cô đã lựa được hôm ấy không phải vì không thích chúng mà vì không thích thái độ lạnh lùng của cô bán hàng. Dù thích chiếc váy vô cùng, cô cũng nhất quyết không mua vì không muốn cô nhân viên bán hàng kia kiếm được bất kì 1 xu phần trăm lợi nhuận nào từ những đồng tiền cô bỏ ra. Tôi đã không đoán ra được lí do chỉ vì tôi ít khi chú ý đến những việc mà tôi cho là tiểu tiết nhưng với cô lại là điều căn cốt. Trong khi tôi quan niệm mua bán cho được việc thì tôi chỉ chăm chăm nghĩ về món hàng định mua mà dễ dàng bỏ qua mọi tiểu tiết khác thì cô bạn tôi lại quan niệm mua sắm là thú vui, thế nên, việc cô được tận hưởng niềm vui ấy là quan trọng nhất. Vì thế, với cô, hàng hoá không phải là điều cốt lõi trong một cuộc mua bán mà thái độ của người bán hàng mới là điều quan trọng nhất. Sự tương tác, giao lưu với người bán hàng sẽ đem đến cho người mua cảm hứng mua sắm, thậm chí là những thông cảm, áy náy rất con người trong trường hợp ra về tay không. Đó là lí do vì sao tôi thấy cô bạn tôi rất thích trao đổi, nói chuyện với những người bán hàng về niềm đam mê thời trang, về kinh nghiệm mua sắm và đủ thứ khác trên đời. Có một đôi lần, cô bước ra khỏi cửa hàng không mua món đồ nào và tỏ ra ái ngại vì người bán hàng đã quá nhiệt tình. Cô bảo tôi lần sau nhất định sẽ quay lại mua cái gì đó, chỉ vì cô thích người bán hàng.
Ở Mỹ, khi bước vào một cửa tiệm, thông thường, các nhân viên sẽ cười rất tươi chào bạn và sẽ có một người chăm sóc bạn đến nơi đến chốn. Họ đến, tự giới thiệu tên, giới thiệu những món đồ đặc sắc và giá cả đặc biệt (nếu có) rồi đề nghị nếu cần giúp đỡ gì thì cứ gọi họ. Họ sẽ để mắt đến bạn thường xuyên, để cầm giúp những món đồ bạn đã chọn, để tư vấn kịp thời nếu thấy bạn tỏ ra lúng túng… Các nhân viên khác khi tình cờ đi ngang qua bạn, lúc nào cũng hỏi thăm xem mọi việc có ổn không? Khi bạn trả tiền, câu hỏi đầu môi của người thu ngân luôn là: hôm nay có ai giúp đỡ bạn không? Đó là cơ hội để người mua bày tỏ sự cảm ơn hoặc không hài lòng với các nhân viên bán hàng, để cửa tiệm căn cứ đánh giá lao động của nhân viên. Đó cũng là một điều kiện khiến người mua sẽ nhớ đến tên người bán hàng đã giúp đỡ mình và dễ dàng nhận ra họ khi quay lại. Trên hết, đó là một cách để tạo ra những kết giao thân thiện đầy tính người - cái gốc cội cho mọi cuộc bán mua được bền chặt, lâu dài.
Ở Mỹ, đi chợ cũng là đi chơi. Không chỉ những phiên chợ nông dân cuối tuần mà ngay cả những chợ hoa quả, nông sản hàng ngày đều mang một không khí thư giãn, vui vẻ. Ở đó, những người bán hàng dù tất bật sắp xếp hàng hoá vẫn không quên niềm nở chào hỏi, mời tôi nếm thử vài loại hoa quả mới nhập hoặc nựng nịu bọn trẻ con rồi dúi vào tay chúng mấy chiếc bánh nhỏ khi thấy chúng tỏ ra thiếu hợp tác với mẹ giữa chốn đông người. Vào tháng 10, chợ Monterey gần nhà tôi được trang trí đẹp đẽ với rất nhiều bù nhìn rơm, các bó hoa khô rồi còn dành hẳn một góc để tạo thành một quả đồi bí đỏ chủ yếu cho bọn trẻ con đến leo trèo, nghịch ngợm và giúp bố mẹ chọn bí đỏ cho lễ Halloween. Không khí hội hè bắt đầu từ chợ… Nó khiến tôi chạnh nhớ đến những phiên chợ ở nhà quê và ngậm ngùi nghĩ đến những cái chợ xô bồ, sặc sụa mùi tiền nơi phố thị.
Ngẫm lại, tôi mới thấy cái văn hoá chợ búa đô thị của Việt Nam đã “vật hoá” con người đến mức người ta chỉ chăm chắm vào những món hàng mà sẵn sàng bỏ qua những chuyện rất con người: ví dụ như chuyện cái tên và vài câu thăm hỏi.

Viết đến đây, tôi lại nhớ đến một nghịch lí rất tức cười khi đi mua sắm ở Việt Nam. Cứ hễ lúc nào tôi chủ tâm ăn bận thật đơn giản để đi mua sắm cho dễ (để tiện cởi ra mặc vào) thì y như rằng, tôi thường xuyên bị các cô bán hàng ra ngấm vào nguýt rất khinh khi, chắc vì họ thấy tôi ăn mặc tuềnh toàng thì nghĩ rằng tôi chắc chỉ ghé vào khu mua sắm để hưởng xái tí điều hoà cho mát chứ tiền đâu mà đòi mua. Lần khác, tôi có hẹn với bạn ở quán café ngay trong khu shopping, nhân đến sớm, tôi dạo bước lòng vòng giết thời gian và kinh ngạc thấy các cô bán hàng ai nấy mặt tươi như hoa đón chào, dù mấy hôm trước tôi vừa bị họ cho ăn nguýt. Rồi tôi chợt nghĩ ra, vì hôm đó tôi ăn mặc sành điệu khác hẳn cái con bé quần shorts dép tông xuề xoà họ thấy hôm nọ. Tiếc cho các cô, hôm đó tôi không hề có ý định mua bán gì, thế là nụ cười chào hàng của các cô đâm ra ế ẩm. Giá mà các cô đã dành những nụ cười ấy cho cái con bé mặc quần shorts, đi dép tông hôm nọ, giá mà các cô trong khi tâm tâm niệm niệm học thuộc lòng câu “khách hàng là thượng đế” thì cũng không quên mất rằng, thượng đế rất thích vi hành trong bộ dạng bình dân.

Monday, November 24, 2014

Bao giờ hết thương vay?

Lâu nay theo dõi cơn bão dư luận về vấn đề tuổi tác của Công Phượng dấy lên từ sự hung hăng quyết tìm ra sự thật của VTV và sự bảo vệ một cách hung hãn không kém của đám đông mến mộ tài năng bóng đá trẻ của nước nhà, tôi tự đặt cho mình nhiều câu hỏi. Và câu hỏi lớn nhất trong số những suy nghĩ vụn vặt hàng ngày ấy, tôi dành cho đám đông: bao giờ thì hết thương vay?
            Tôi tự hỏi có bao giờ cái đám đông xô đẩy, chen lấn nhau quyết chí la ó cho bằng được một câu quanh câu chuyện tuổi tác của Công Phượng kia thử tự đặt mình vào tâm thế của nhân vật chính, để hiểu ra rằng: họ càng khản giọng la hét, càng chửi bới văng mạng (dù là với thiện ý bảo vệ thần tượng) thì áp lực đổ lên đầu chàng trai trẻ càng lớn. Ở đây, tôi xin phép không bàn thêm về những nhập nhèm đáng xấu hổ đã được truy tìm bằng mọi giá kia nữa bởi tôi không muốn nhảy vào cuộc chiến hỗn loạn đến mức cả hai bên đều quên mất mục đích của việc mình đang làm. Tôi chỉ muốn thử đóng vai một người quan sát “khí tượng” xem xét và dự đoán cơn bão dư luận quay quanh Công Phượng rồi sẽ đi đến đâu và sẽ để lại những thiệt hại gì cho nhân vật chính.
 Trong khi đám đông đang ra sức la hét bảo vệ Công Phượng cho rằng họ đang bảo vệ thần tượng, đang gây áp lực lên những người tìm cách phanh phui sự thật bằng mọi giá, tôi tin rằng chàng trai trẻ Công Phượng đứng giữa vòng xoáy ấy cũng đang hoàn toàn mất phương hướng vì ngay chính những tiếng la hét thất thanh đinh tai nhức óc kia từ phía đám đông. Đám đông ngoài kia đâu có để ý gì đến tâm lí của nhân vật chính bởi toàn bộ năng lượng của họ đã dốc hết vào xới đấu đá, cãi lộn ngậu xị rồi. Với tôi, đám đông ấy chỉ là một đám đông thương vay, khóc mướn không hơn. Đám đông ấy chỉ đang hùa nhau thực hiện một hành vi vô thức được hướng dẫn bởi thói quen đã ăn sâu vào tâm thức cộng đồng người Việt nói chung: thói thương vay khóc mướn.
Chắc cũng chẳng có xứ sở nào lại có trò khóc mướn kì quặc trong đám tang như ở nước Nam mình, đến độ đã in dấu thành cả một lối sống qua câu quán ngữ “thương vay khóc mướn”. Bản chất khởi nguyên của tiếng khóc tiếc thương người quá cố đã dần dà bị cái thói ưa sĩ diện làm cho biến chất. Người ta phải thuê người khóc la thảm thiết trong đám tang chỉ để cho quan khách nhìn vào, để thiên hạ thấy cái đám ma ấy thật não nùng, bi thảm đúng điệu đám ma. Việc khóc trong tang sự đã trở thành một thứ trang sức cho người sống chứ không còn cái ý nghĩa nguyên thuỷ ban đầu là sự biểu hiện đau thương tiếc nuối người quá cố. Để thoả mãn thói sĩ diện, người Việt đã không ngại ngần làm giả cả tiếng khóc thương cho người chết. Và chuyện kì quặc ấy được dung dưỡng bởi một thói tật khác mang đậm tính chất văn hoá làng xã: thói ưa tham gia vào chuyện riêng tư của người khác, vin vào sự đề cao các mối quan hệ chằng chịt trong một xã hội duy tình. Cứ thế, “thương vay khóc mướn” nghiễm nhiên trở thành căn tính của người Việt.
Bạn chắc cũng như tôi, không bao giờ muốn trở thành người làm giả tiếng khóc, người khóc mướn cho ai đó trong đời sống vốn đã có quá nhiều giả trá này. Vậy thì, trước khi nhân danh đủ thứ trang sức đạo đức trên đời để nhỏ lệ vì ai đó, bạn hãy thử dừng lại một chút để nghĩ cho thấu đáo: bạn đang khóc vì ai? Quay trở lại câu chuyện của Công Phượng, tôi tin rằng, chàng trai trẻ ấy đã có đủ bản lĩnh để chịu trách nhiệm trước công chúng và không cần đám đông la ó hộ mình bởi hơn ai hết, cậu hiểu rằng, nếu có sự dối trá nhập nhèm nào ở đây, cậu cũng chỉ là nạn nhân chứ không phải tội đồ. Hãy tôn trọng Công Phượng và gia đình cậu, giữ cho họ một khoảng lặng yên cần thiết để họ suy nghĩ thấu đáo và tự nói lên mọi việc. Đến lúc đó, mọi người bày tỏ lòng cảm thông cũng chưa muộn.  
Mùa hè năm vừa rồi, bằng chính một trải nghiệm của bản thân, tôi đã vỡ lẽ ra rằng, khi ta biết nhìn mọi việc lí tính hơn, ở những khía cạnh tươi sáng hơn, ta sẽ tự nhiên bỏ được thói thương vay khóc mướn. Hôm đó, tôi và mẹ chồng đưa bọn trẻ con đi nghe một buổi hoà nhạc ngoài trời dành cho thiếu nhi. Tất cả mọi người đều vui vẻ hưởng thụ ánh nắng mùa hè và thứ âm nhạc vui nhộn dành riêng cho trẻ con, kể cả cặp vợ chồng trẻ với đứa con nhỏ xíu đang còn ẵm ngửa ngồi ngay phía trước chúng tôi. Ban đầu, tôi để ý đến họ vì cả hai vợ chồng họ đều rất đẹp và rất náo hoạt. Họ nhún nhảy và cười đùa cùng đứa con bé bỏng hết sức hào hứng và hồn nhiên. Rồi tôi nhận ra đứa trẻ trông không hoạt bát như bình thường, hình như nó bị dị tật bẩm sinh nên phải đeo dây dợ loằng ngoằng trên đầu. Theo thói thường của người Việt, tôi thở dài thầm xót thương cho đứa bé và cha mẹ nó, nghĩ bụng sao cha đẹp mẹ xinh thế mà lại không may sinh ra một đứa con bệnh tật. Ra khỏi buổi hoà nhạc, tôi vẫn ám ảnh bởi gia đình nọ bèn lên tiếng kể với mẹ chồng. Nhưng tôi chưa kịp bày tỏ bao nhiêu xót xa sẵn có, mẹ chồng tôi đã hỏi: “Con có thấy cô bé ấy là một đứa trẻ may mắn không?” Rồi không đợi tôi nuốt vội xót xa để bắt “tông” cho kịp mà trả lời, bà nói luôn: “dù sinh ra bị dị tật như thế mà cha mẹ nó vẫn yêu thương và hạnh phúc khi có nó. Nó đúng là may mắn!”. Hôm đó, mẹ chồng tôi đã cứu tôi khỏi một màn “thương vay khóc mướn” trông thấy. Và cũng hôm đó, tôi đã tự hỏi mình: “Bao giờ hết thương vay?” 

Tuesday, November 18, 2014

Tản mạn chuyện chồng Tây

Chủ đề chồng Việt – chồng Tây, trai Tây – trai Việt đã sục sôi ở quá nhiều diễn đàn và mình chẳng mấy khi quan tâm, với 1 quan niệm đơn giản rằng: trai Việt hay trai Tây thì cũng đều là đàn ông, chồng Việt hay chồng Tây thì cũng đều là chồng, vậy thì sao không nhìn từ cái gốc chung nhìn đi mà phải rẽ cành rẽ nhánh ra so sánh nọ kia cho nó phức tạp. Thế nhưng, từ độ mình ra cuốn “Làm dâu nước Mỹ”, tự nhiên có rất nhiều chị em cứ nhắn tin tâm sự mơ ước lấy chồng Tây, mơ ước xuất ngoại. Mình không có đủ thời gian để trả lời cho từng người với những câu hỏi na ná như nhau kiểu bí quyết lấy chồng Tây nên viết note này trả lời chung cho các bạn.
Trước hết, mình xin nói luôn là mình chẳng có cái bí quyết nào sất cho việc lấy chồng (chứ chưa nói đến chuyện chồng Tây). Mình tôn trọng thái độ ham học hỏi của các bạn, nhưng xin thưa, sự đời lắm tréo nghoe chả mấy khi chấp nhận cho người ta cứ bắt chước nhau, rập khuôn nhau mà nên việc, nhất là một việc trọng đại như việc hôn nhân. Hơn nữa, mình vẫn tin rằng hôn nhân là chuyện duyên số. Dĩ nhiên, thời buổi mà con người đã có thể tự trang bị cho mình vô vàn kiến thức cần thiết để định hướng “duyên số” thì trong một chừng mực nào đó, các bạn có thể khoanh vùng lựa chọn cho việc kết hôn. Nhưng như thế không có nghĩa là các bạn đánh bại được “duyên số”. Một ví dụ rất phổ biến, các bạn thích lấy chồng Hàn Quốc bèn hăng hái đi học tiếng Hàn, thích lấy chồng Mỹ thì bỏ tất cả lao vào học tiếng Anh... Thế nhưng, tiếng Hàn hay tiếng Anh chỉ là những công cụ giao tiếp, còn chuyện yêu đương hôn nhân là chuyện của trái tim với những đòi hỏi giao cảm ở mức độ tinh tế hơn gấp nhiều lần mức độ giao tiếp qua ngôn ngữ. Câu chuyện lại quay trở về cái gốc căn nguyên của mọi cuộc hôn nhân lành mạnh (bất kể ngôn ngữ, bất kể màu da) – đó chính là tình yêu. Và tình yêu, cảm xúc là thứ nằm ngoài khả năng học hỏi.
Nhiều bạn bày tỏ nỗ lực gặp được tình yêu ngoại quốc bằng việc học tiếng nước ngoài rất chăm chỉ. Mình ghi nhận sự chăm chỉ của các bạn, nhưng các bạn có nghĩ rằng, nếu các bạn cứ nỗ lực như thế, chăm chỉ như thế với mục đích là học cho chính mình thì việc học trở nên có ý nghĩa thiết thực hơn nhiều so với cái mục tiêu lấy chồng ngoại quốc rất vu vơ không. Rất nhiều bạn cứ nhắn tin hỏi mình về việc học tiếng Anh, hic, mình xin thưa với các bạn là tiếng Anh của mình rất thường. Hồi lên đại học, mình đã bỏ tiếng Anh để theo đuổi tiếng Trung – thứ ngôn ngữ cần thiết cho chuyên ngành của mình hơn tiếng Anh. Hồi yêu chàng Voi, mình rất tự ái khi mọi người cứ hỏi là thế độ này tiếng Anh của mình đã cao siêu đến bậc nào? Mình yêu con người chàng chứ có yêu cái ngôn ngữ của chàng hay cái mã mắt xanh mũi lõ của chàng đâu. Hình như, ở cái nước Nam ta, sự mặc cảm tự ti dân tộc cố hữu khiến người ta không thể nhìn mọi việc ở căn nguyên con người mà cứ phải nhìn qua những so sánh bề ngoài rất hời hợt. Thế mới có cái trò tiếng Việt thì học chưa đến đầu đến đũa mà cứ mở mồm ra là phải bô lô ba la tiếng Tây cho nó sang trọng. Mình nhớ có lần đi ăn tối với chàng Voi ở một quán cóc vỉa hè, hai đứa ngồi cạnh một bàn rất đông các bạn trẻ. Các bạn này thấy chàng Voi bước vào thì bỗng nhiên thi đua nói tiếng Anh với nhau. Chàng Voi lắc đầu nhìn mình bảo: sao các bạn ấy không biết yêu tiếng Việt của mình nhỉ?
Còn mình, mình cũng muốn hỏi các bạn cứ nhắn tin bày tỏ mơ ước lấy chồng Tây, rằng: sao các bạn không biết yêu trai Việt/ chồng Việt của mình nhỉ? Sao các bạn cứ phải nhìn đàn ông Việt Nam trong cái thế so sánh với đàn ông Tây một cách rẻ rúng như thế? Như mình đã nói ở phần mào đầu, trai Việt hay trai Tây thì đều là đàn ông, chồng Việt hay chồng Tây thì đều là chồng, và ở đâu, giống nòi nào cũng có người này kẻ kia. Nếu các bạn chỉ nhìn vào cái bề ngoài mắt xanh mũi lõ và thần thánh hoá những gã đàn ông ngoại quốc nói tiếng Anh như gió (tiếng mẹ đẻ của họ, lại chả siêu) rồi nhẹ dạ trao thân gửi phận thì các bạn hãy coi chừng. Họ rất có thể chỉ là những gã Tây ba lô vô nghề nghiệp, mang cái vốn tiếng Anh tự có sang các nước Đông Nam Á kiếm việc sống qua ngày và hưởng thụ sự mời mọc đón chào như ông hoàng của đám đàn bà con gái ở những xứ sở mà sự mặc cảm tự ti dân tộc còn ngự trị.
Có những bạn bày tỏ sự chán nản khi phải chôn chân ở quê nhà và ước muốn được lấy chồng ngoại quốc để được xuất ngoại cho thoả chí tung hoành. Bạn ơi, trong cuốn sách của mình, mình đã kể những câu chuyện về những giấc mơ bị giam cầm ngay trên chính nước Mỹ - thiên đường tự do. Tự do hay không, xét đến cùng là ở chính bạn chứ không phải ở nơi bạn sống. Mình không biết trả lời thế nào khi bạn bảo rằng bạn không tự hào gì về đất nước Việt Nam của bạn và của mình. Mình chỉ muốn nói với bạn rằng, khi bước ra thế giới rộng lớn, khi sống trong một xã hội đa chủng tộc, đa sắc tộc mà bạn chẳng có gì để tự hào thì đó là điều thiệt thòi cho chính bạn. Nếu bạn muốn có tình yêu của một người ngoại quốc, trước hết, bạn hãy là một người Việt Nam, thật Việt Nam, thậm chí Việt Nam hơn cả mọi người Việt Nam xung quanh! Bởi một lẽ rất thông thường là người ta thường tìm kiếm những cái gì khác mình và thường ưa chuộng những gì mình không có. Chối bỏ gốc gác, ngoảnh mặt với bản sắc dân tộc suy cho cùng không phải là cách giúp bạn tiếp cận gần hơn 1 người ngoại quốc (1 nền văn hoá khác, nói rộng ra).
Nói cho cùng, dù tình yêu và hôn nhân là câu chuyện mang hơi hướng duyên phận thì hạnh phúc vẫn là thứ trong tầm tay bạn. Với mình, quan trọng nhất là bạn biết coi trọng bản thân và giá trị của chính mình. Rồi hoa thơm thì hương sẽ toả, ong bướm sẽ kéo đến mấy hồi. Hạnh phúc sẽ đến với những người biết trân trọng từng giây phút, từng khoảnh khắc của cuộc đời, biết trân trọng thứ hạnh phúc đích thật ngay bên cạnh chứ không phải là những chuyện huyễn hoặc xa xôi. Mình vẫn tin rằng, chẳng có chủng tộc nào vượt trội hơn trong chuyện yêu đương tình ái.
P/s: Một lần nữa, mình muốn nói với các bạn rằng, những chia sẻ của mình trong cuốn “Làm dâu nướcMỹ” là những chia sẻ cực kì mang tính cá nhân. Mình chỉ đại diện cho chính mình chứ không đại diện cho bất kì ai khác, thế nên đừng nghĩ chồng Mỹ nào cũng như chàng Tây Rau Muống của mình, nước Mỹ của bất kì ai cũng giống cái nước Mỹ mà mình đang trải nghiệm. Chúc các bạn sẽ luôn tìm thấy những niềm vui giản dị và tận hưởng hạnh phúc trước mắt mỗi ngày.
“Tri túc chi túc, hà thời túc; tri nhàn chi nhàn, hà thời nhàn”, Lão Tử dạy rồi!