Showing posts with label Mắt văn chương. Show all posts
Showing posts with label Mắt văn chương. Show all posts

Monday, November 10, 2014

Trích nhật kí một chuyến điền dã ngược rừng

Ngày 15 tháng... năm 200...
Xe xuất phát từ Viện khoa học xã hội Việt Nam. Đoàn có anh Nguyễn Ngọc Thanh, Viện phó Viện Dân tộc học, anh Nguyễn Hải Đăng, em Lê, em Hà ở Viện dân tộc học, thêm mình với em Lê Thị Dương – Viện Văn học và anh Tùng (giảng viên của đại học Hồng Đức). Đi đường Hồ Chí Minh, qua Hà Đông, rẽ vào đường đi Chùa Hương, qua đập Tràn (gọi đập tràn vì một bên đường có bờ kè cao hơn đường, nước cao mấp mé kè, gần như tràn xuống đường. Từ đường này rẽ trái đi ra đường Hồ Chí Minh. Xe đi qua địa phận của Ninh Bình, qua huyện Nghĩa Đàn, huyện Tân Kỳ, Anh Sơn rồi mới tới Con Cuông. Trời se lạnh, mưa lâm thâm. May là đến đất Nghệ An trời hết mưa.
Đường Hồ Chí Minh thưa vắng, trập trùng đồi núi. Hai bên đường chỉ có những ngôi nhà sàn lẻ loi và bạt ngàn ngô, sắn… Người dân cũng thường tận dụng lề đường để phơi sắn xắt.
Xe đi khá chậm, nghỉ lại ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn. Tới 5 giờ chiều mới về đến nhà khách của UBND huyện Con Cuông. Mình hơi mệt vì ngồi trên xe cả ngày, hơn nữa vì cảm giác buồn bã xâm chiếm mấy hôm nay. Tối tắm rửa rồi chuẩn bị cho cuộc làm việc ngày mai với UBND.

Ngày 16 tháng... năm 200...
Sáng. Làm việc với UBND. May là mình không phải chạy việc giấy tờ gì. Chỉ ngồi chờ để gặp mấy người mà cũng phát chán, đến ngáp dài ngáp ngắn. Gặp được anh Đức trưởng phòng văn hóa huyện cũng khá nhiệt tình, xin được 2 cuốn sách về Con Cuông. Gặp mấy người ở phòng tài nguyên và phòng nông nghiệp. Chiều làm việc với bên Ban quản lý vườn quốc gia  Pù Mát. Mình được giao phỏng vấn phiếu một người thuộc nhóm quản lý rừng Pù Mát mà phát bực lên vì phiếu thiết kế quá chán, không phù hợp để lấy thông tin cho chính xác. Cả ngày không thu được cái gì thú vị làm mình cảm thấy mệt hơn. Trời lạnh hơn vì có đợt không khí lạnh mới. Đoàn định ngủ lại trong khu vực ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát nhưng cuối cùng lại ra nhà khách nghỉ tiếp 1 đêm nữa,

Ngày 17 tháng ... năm 200...
Đoàn đi vào xã Môn Sơn, được coi là xã điểm của huyện Con Cuông. Môn Sơn cách thị trấn 20km, đường dễ đi. Vào đến UBND xã thì đi vắng hết, lại chẳng làm việc được luôn. Chị Vi Thị Tứ, làm ở văn phòng tiếp đón rất nhiệt tình, dẫn mọi người đến nhà một gia đình trong xã để ở lại. Nhà cụ Vi Văn Tưởng có 2 ông bà với một cô con dâu và một đứa cháu nhỏ. Ở nhà sàn mùa này hơi lạnh. Mình còn nhớ cảm giác gió lùa thun thút hôm đi lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp hồi đầu năm.
Chiều. Tập trung được bà con ở nhà bà trưởng bản bản Thái Sơn. Lần đầu tiên thấy một phụ nữ làm trưởng bản. Ban đầu mình nghĩ chắc bà này phải uyên bác hay chuyện lắm. Sau khi phỏng vấn xong được 3 người dân, mình vào ngồi bếp lửa lân la hỏi chuyện. Nhưng không ăn thua. Bà ấy mới 46 tuổi, cũng không biết gì nhiều về văn hóa Thái.
Theo mọi người nói thì người ở thôn này chủ yếu là Tày Thanh. Tày Mường tập trung ở Thái Hòa.

Ngày 18 tháng ... năm 200...
Một ngày làm việc khá hiệu quả. Sáng, cả đoàn tập trung ở Nhà văn hóa cộng đồng bản Thái Sơn. Bà con kéo đến rất đông và mọi người phỏng vấn được một nửa số phiếu cần thiết cho cả chuyến đi (75 phiếu). Mình tranh thủ phỏng vấn sâu được mấy người.
Có thu thập được mấy câu tục ngữ dự báo thời tiết của người Thái ở bản Thái Sơn, xã Môn Sơn:
-       Ngứa đầu thì trời sắp nắng
-       Kiềng đen thì sắp mưa, kiềng trắng thì sắp nắng (kiềng lăm khắm phân, kiềng may khắm lẹt)
-       Cóc kêu thì trời chuẩn bị mưa (cà tù hoọng phạ khắm phân) tương đương câu: Cóc kêu uôm uôm/ Ao chuôm đầy nước
Một số kinh nghiệm xem thời tiết:
-       Thấy con chong chóng[1] kêu thì biết trời sắp mưa lớn.
-       Nếu cây rì rì có rễ chuyển sang màu đỏ thì sắp có lụt to
-       Nếu thấy bầy chim “noộc ràng” – màu trắng bay đầy trời thì sắp có bão lụt.
-       Nếu thấy con gà bay lên ngọn cây cao để ở là biết trời sắp nắng
-       Nhìn ngọn đồi Pù Bon, nếu thấy sương sa xuống (hoặc nhiều mù) là biết trời sắp mưa.
-       Nếu buổi sáng, nhìn đằng đông thấy trời có màu đỏ tía thì sắp có giông tố, lốc.
-       Nếu cây hoa bi trổ hoa đều khoảng 5 – 7 ngày thì sau đó sẽ có mưa to.
-       Nếu thấy có nhiều kiến bò ngang đường là trời sắp mưa
Chiều. Bản Thái Sơn họp nên mọi người chuyển sang làm ở nhà dân. Chọn nhà của ông Dậu ở đội 5 để tập trung bà con. Nhà mất điện, trời lại rét nên mọi người chủ yếu tập trung gần bếp lửa để vừa điều tra phiếu, vừa phỏng vấn sâu. Mình hỏi được một số thông tin về tín ngưỡng và kiêng kị của người Thái ở đây.
Người Thái ở đây chỉ có một nỗi ám ảnh về các loại cây mà họ gọi là cây ma.. Đó là dây “chợ lẻ” – một loại dây leo trong rừng thường có nhiều dây cuộn vào nhau, to bằng bắp tay hoặc hơn. Người ta nói nếu lỡ tay chặt phá loại dây rừng này thì về nhà sẽ bị ốm hoặc bị điên, có thể phải mấy năm sau mới phát. Nếu ai lỡ động tay vào thì phải về nhà giết một đôi gà (1 trống 1 mái, 1 đỏ 1 trắng) để mời thầy mo đi ra cây mà cúng xin trả lễ cho thần cây. Ông thầy mo sẽ phải đi cùng với người lỡ chặt cây tới tận cái cây ấy, nói rõ cây đang đứng ở vùng nào, đường nào, lối nào mà xin cho đúng. Người ta gọi hành động này của ông mo là hú vía trả lễ. Có người cho rằng cây “chợ lẻ” có mủ độc. Khi chặt, nếu không để ý sẽ bị mủ dây vào người, thấm vào người rồi dần dần phát bệnh.
            Loại cây thứ hai bị coi là cây ma là cây “náng tằng” (cây ghế ngồi). Cây này rất to, thường có rễ cuốn ở gốc tạo thành hình như cái ghế. Nếu người nào đi rừng, mệt nhọc quá mà lỡ ngồi vào “cái ghế” ấy hoặc lỡ tay chặt cành của nó thì về nhà sẽ bị ốm (thường là phát bệnh thần kinh).
            Người ta cũng kiêng chặt phá những cặp cây sống cạnh nhau và có thân quấn xoắn xuýt vào nhau. Nếu lấy gỗ ấy làm nhà thì nhà cửa không yên, người động vào cây sẽ bệnh tật, ốm yếu.

Ngày 19 tháng... năm 200...
Một ngày làm việc cực kỳ hiệu quả. Mình thấy vui nhất là gặp được một số chuyện liên quan đến luận án của mình. Cả ngày chỉ đi phỏng vấn sâu. Sáng phỏng vấn 2 người, chiều phỏng vấn 2 người. May là mình gặp được những người hiểu biết cả.
            Sáng. Tiếp xúc với ông mo Vi Kim Sinh, 74 tuổi. Theo ông, trong rừng có rất nhiều ma cây, gồm có:
-       Ma xi éo (ma của 2 cây quấn vào nhau, cứ kêu cót két)
-       Ma “chợ lẻ”
-       Ma “chợ lẻ náng tằng”: cũng là dây chợ lẻ nhưng phần gốc quấn cuộn như cái ghế.
-       Ma “thau khót” (bẫy của ma): là một cái dây rừng (có thể to hoặc có thể rất nhỏ) mọc theo kiểu thắt nút. Gốc và ngọn không thể nào tháo ra được cái nút thắt ấy.
-       Ma sông, ma suối: (cháu nặm bằng pa)
-       Ma rú ma rừng (cháu pù nàng pha)
-       Ma khe ma suối (cháu hối cháu hoóng)
Ông Sinh kể tuần tự việc cúng các loại ma này như sau:
Cúng ma “chợ lẻ”:
-       Ông mo cầm cái áo của người ốm đến dưới gốc cây “chợ lẻ”, đi cùng là 1 người dẫn đường (trong trường hợp không nhớ ra cây ở đâu thì cúng ở nhà)
-       Lễ vật: 1 con chó sống (để cho ma cây) chặt ra 4 phần; 1 con gà đã nấu chín (lễ vật cho thần Đất – cháu lín); 2 chai rượu cho thần đất và ma cây; 1 tấm vải; 1 ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ cho ma cây; cơm hoặc xôi: 4 bát.
-       Ông mo mời thần đất đến chứng cho cuộc cầu cúng này vì thần đất là người thông thạo cả vùng, là chủ còn ông mo chỉ là khách. Không mời thần đất  thì không xong. Ông cũng phải nhờ thần đất gọi ma cây đến. Ông mo dùng hai đồng tiền âm dương để xem thần đất có đến hay không. Phải gieo 2 lần liên tiếp đều được 1 sấp 1 ngửa thì mới xong. Hỏi xem ma cây đến chưa cũng bằng cách tương tự. Nếu gieo mà 2 đồng đều ngửa là ma cười, 2 đồng đều sấp là ma ghét.
-       Sau khi ma đến, ông mo cúng trình bày với ma, con cháu đi rú đi rừng, động đến ma, ma dắt vía nó đi, giờ có chút ít lễ mang đến đây, xin ma trả vía cho nó.
-       Sau khi đợi hương tắt thì đem lễ về.
Cúng ma sông ma suối thì lễ vật là: 2 con gà; rượu, một tấm vải, một ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ. Nếu ta đi sông mà tự nhiên giật mình là vì ma sông ma suối bắt mất vía, phải về nhà cúng để xin vía.
Ngoài ra, cúng các ma khác cũng làm tương tự. Lễ vật đều là gà chỉ có ma “chợ lẻ” là thích thịt chó sống.

Chiều. Phỏng vấn ông Vi Xuân Bình, 87 tuổi. Ông nói thêm mấy loại ma:
-       Ma núi (phí pụ phí pha)
-       Ma nước, ma khe (phí nặm phí huổi phí hoóng)
-       Ma rừng (phí va cạp): ma cũng có làng bản như người, nhưng người không trông thấy được, nếu lỡ động đến bản của ma sẽ bị ma bắt vía.
-       Ma cây đa (phí cò bá)
Ông Hà Văn Phán, 79 tuổi thì cho rằng có mấy loại ma nữa:
-       Ma rừng ma rú (phí pù phí pà)
-       Ma con càng cỏi (Phí ca già háng càng cỏi): con càng cỏi là con giống con khỉ nhưng nhỏ như con mèo, sống  trong rừng, có ma thuật để giết người nên người ta rất sợ. Ma càng cỏi thường theo mùi muối trong lửa để tìm ra con người. Đi rừng, người ta kiêng bỏ muối vào lửa vì sợ con càng cỏi đến. Nếu lỡ để nó nghe thấy mùi mà tìm đến, nó sẽ kêu “càng cỏi” rồi mò đến bếp lửa, không thể nào đánh được vào nó vì nó thoắt ẩn thoắt hiện. Nó thường che mặt của nó và nếu nó rút que củi trong bếp ra thì con người ở gần đấy sẽ bị rút ruột mà chết, vì nó có ma thuật. Lúc ấy, người ta thường khấn xin thần rừng, xin thần uống tạm bát nước chè rồi kêu con càng cỏi về, tha cho con cháu.
Mình sưu tầm thêm được một số câu tục ngữ về dự báo thời tiết:
-       Trời sắp mưa mặt trời không đỏ
Trời nắng khô thì bản của anh mất mùa
(Phạ lọ phân tà nghiềng bó chánh
Phạ lẹt lẹng mường ái xìa mua)

-       Chồng và vợ khóc khản cổ
Khóc đến trời mà trời không mưa
(Phụa tậng mịa choọng khò nắng háy
Háy ha phạ phạ bó phân)

Ngày 20 tháng ... năm 200...
Đêm qua mình có một giấc mơ rất lạ. Mình nhìn thấy một cơn lốc (có hình giống y chang một cái đồng hồ cát, trong veo) đến. Lúc đó, mình đang ở trong một nhà cao tầng, cơn lốc bay qua, chạm vào mọi thứ và gây đổ vỡ, rồi nó lướt qua mình, chạm vào mình, nhẹ bẫng! Cảm giác khi cơn lốc ấy chạm vào mình thật lạ! Dù mở mắt dậy và rất băn khoăn về giấc mơ, nhưng mình cũng ko dám suy nghĩ nhiều đến nó, phải tập trung làm việc nốt trong ngày hôm nay.
Đêm qua, cả hội năm rúc rích mãi, không ngủ được vì xếp T. ngáy quá to. Hic, đúng là như voi gầm. Hai ông bà chủ nhà cũng ko ngủ được, thức dậy đi đi lại lại cùng với anh Đăng. Mọi người càng cảm thấy buồn cười tợn. Đồng chí ấy đang say sưa ngáy, nghe tiếng cười, cáu quá bèn dậy lôi đèn pin đi xuống ô tô ngủ. Được yên tĩnh ngủ một lúc, bỗng nhiên nghe tiếng gà gáy xôn xao. Hình như gà của cả bản đều thức dậy và gáy. Mình nói với mọi người, chết thật, hôm nay vừa nghe mấy người già bảo, gà gáy lúc nửa đêm như thế là có điềm ko lành. Lại xuýt xoa lo lắng. Cuối cùng, cả bọn đồng ý phải xuống gọi xếp T. lên nhà sàn ngủ, ko ngủ một mình dưới xe nữa. Chắc là xếp rất vui, vì thấy mấy đứa lo lắng, dù xếp lên ngáy thì cả bọn lại thức ngủ chập chờn. Giấc mơ đến với mình trong một cơn chập chờn như thế.
      Từ tối qua khi hội ý, mình đã thông báo với anh Thanh là sáng mai mình sẽ qua bản Cằng gặp ông Lương Nghiệp – một nghệ nhân dân gian có tiếng trong vùng. Bản Cằng cách bản Thái Sơn khoảng 3 km. Anh Thanh bảo ngày mai sẽ cho ô tô đưa mình đi. Sáng nay lại nghe anh Thanh bảo sẽ đi cùng, với em Dương nữa. Càng vui!
      Ông Lương Nghiệp là một nghệ nhân dân gian thực thụ. Mình ít thấy người Man Thanh nào tài hoa như ông. Người Thái ở đây chủ yếu là người Man Thanh (họ tự phân biệt họ với người Tày Mường hay còn gọi là người Hàng Tổng). Người Tày Mường thường cầu kỳ hơn trong phục trang và các nghi lễ. Cung cách của ông Nghiệp khiến mình nghĩ tới chú Sầm Bình ở Quỳ Hợp. Rất điềm tĩnh và nhẹ nhàng. Ông Nghiệp đã hơn 50 tuổi nhưng tóc còn xanh, gương mặt nét như tranh vẽ. Ông tự làm nhiều loại nhạc cụ (đàn tập tính, sáo, nhị). Ông chơi thử mấy bài và mời một cô đang có mặt ở nhà ông hát dân ca Thái. Tiếng đàn, tiếng hát làm mọi người bị thu hút rất nhanh. Cả mấy đứa trẻ con đang chơi ngoài sân cũng chạy vào tròn xoe mắt nhìn, không biết chúng nhìn những người lạ với lỉnh kỉnh ba lô, máy móc trên người hay nhìn ông Nghiệp đàn.
      Ông Nghiệp rót rượu mời mình với anh Thanh (em Dương đi phỏng vấn dân xung quanh). Người Thái cứ có khách đến nhà là phải rót rượu. Ơn trời, mình có tửu lượng khá nên uống vô tư. Chuyện của ông Lương Nghiệp cũng khá thú vị. Nhưng điều thú vị hơn là mình cảm nhận rõ chút khác biệt trong hiểu biết của người bản Cằng với người bản Thái Sơn. Có lẽ nào, ở miền rừng núi này, chỉ cách nhau 2 – 3 cây số thì người ta cũng đã có những trải nghiệm văn hóa khác nhau rồi, dù họ cùng một dân tộc?
      Ông Nghiệp cũng giới thiệu với mình về bà mo một – bà Nguyên ở Lục Dạ. Người Thái ở đây phân biệt mo một và mo mồn. Mo một thường là phụ nữ, vì họ dùng sức mạnh của lời ca và tiếng sáo để đuổi tà ma, nghĩa là họ chọn cách ngọt ngào, nhẹ nhàng để dẫn đường cho hồn vía hoặc đuổi tà ma. Mo mồn thì ngược lại, luôn là đàn ông. Mo mồn dùng sức mạnh của âm binh, của gươm giáo để đuổi tà ma. Ngoài ra còn có mo tằng dạo – chuyên cúng cho người chết và mo bói – chuyên bói áo.
Vì lời giới thiệu của ông Nghiệp, mình có kế hoạch luôn cho buổi chiều, dù sao thì chiều nay mình cũng chỉ mới có một cái hẹn với một gia đình ở cuối bản. Tối qua, phải đi bộ từ nhà ấy về, qua một cánh đồng rộng, mình cũng thấy hơi sợ. May mà trên đường gặp hai cô bé đang đi đến nhà bà để ngủ, mình bắt chuyện rồi đi cùng. Đi miền núi nhiều rồi, nhưng mình toàn làm về mảng bùa chú, nghi lễ nên cũng hơi rợn khi phải đi một mình trong bóng tối, trên con đường chỉ mới đi qua một lần.
      Trưa, mình chẳng được ngủ tí nào. Về nhà ăn cơm xong thì đã sắp đến giờ phải đi. Nhà mo Nguyên còn xa hơn, ở xã Lục Dạ. Anh Đăng bảo mình phải đem cái giấy giới thiệu đi mà làm việc cho dễ, nhưng mình thấy không cần. Dù đoàn mình đăng ký công tác ở xã Thái Sơn nhưng mà mình có làm việc với xã đâu, mình làm việc với dân, với những người cụ thể thì họ đâu có phân biệt gì. Họ đều là người Thái ở vùng rừng núi hoang vu này cả thôi. Phân biệt xã này xã kia chỉ là chuyện hành chính.
      Anh Thanh cho lái xe đưa mình đi sang xã Lục Dạ, tìm nhà bà mo Nguyên. Vì bà này nổi tiếng nên chỉ phải hỏi đôi lần là mình tìm được đến nhà. Mình hỏi đúng ngay vào cháu nội của bà – một cậu thanh niên khá sáng sủa, hiền lành. Cậu ấy bảo bà già rồi, chỉ ở nhà một mình thì hơi khó. Mình bảo, ko sao, chỉ cần nói chuyện với bà là được. Cậu ấy có vẻ ái ngại khi thấy mình hăm hở như thế. Mình hơi khó hiểu. Cậu ấy đang đứng với mấy người bạn, hình như định đi đâu đó. Mình nói chỉ cần chỉ đường vào nhà là được, cậu ấy cứ đi với bạn đi. Cậu ấy đi xe về nhà trước, mình cuốc bộ theo sau. Bà mo Nguyên đã 95 tuổi, rất còng. Bà nói chuyện với mình bằng thứ tiếng Kinh khó hiểu. Thì ra đó là mối lo ngại của cậu cháu. Có lúc, bà lại tuôn một tràng tiếng Thái với mình. Mình nghe lõm bõm, ko hiểu gì hết. Đành phải nhờ cậu cháu dịch hộ. Học tiếng Thái mãi cũng chỉ lõm ba lõm bõm, chán thật! Tiếng Thái của người ở đây cũng giống người Thái ở Quỳ Hợp, nhưng nặng hơn tiếng Thái của người Thái Tây Bắc, mình chỉ cảm nhận được như thế.
      Tầm 3 giờ chiều, mình gọi cho xe đến đón về. Qua nhà ông bà Phán ở cuối bản nhưng chỉ có mỗi bà già ở nhà, đang ngồi bên bếp lửa xâu cau tươi vào dây để dành. Mình ngồi nói chuyện một lúc, thấy ko có thêm thông tin gì nên lại cuốc bộ về. Đi qua cánh đồng, thấy rất nhiều chim én, người ta đứng đầy đồng dăng lưới bắt. Hôm qua, nghe ông chủ nhà nói có người bắt được hơn một bao tải.
      Lần đầu tiên mình về nhà sớm nhất hội. Chui vào bếp lửa ngồi, ngồi đến tối mịt, đến nỗi lúc đứng dậy, bàn tay mình toàn mùi khói. Mình về sớm nên phải nấu cơm, đau khổ! Được cái ngồi bếp lửa cũng ấm. Đang ngồi bếp thì thấy có một con chim én bay loạng choạng vào nhà. Cả nhà xông vào bắt mà ko được, một lúc sau thì thấy con mèo vẫn nằm lười bên bếp ngậm được con chim. Không hiểu nó bắt được lúc nào. Bà già bảo đứa cháu trai, ra xin mèo đi. Thằng bé túm chặt con mèo, cướp con chim khỏi miệng nó. Bà già vặt lông, cho vào bếp lửa nướng luôn. Tội nghiệp con chim, nó gầy trơ xương, có gì đâu mà ăn nó.
Đến tối mịt mới thấy mọi người lao xao dưới nhà, về đông đủ. Hôm nay mình mệt rã rời, ăn xong là leo tót lên giường nằm quấn chăn. Phải tranh thủ ngủ lúc xếp T. chưa đặt lưng xuống.



[1] Con chong chóng: một loại côn trùng có cánh, có tiếng kêu như con ve

Ảnh: ông Lương Nghiệp 




 Ông mo Sinh

Bà mo Nguyên


Chiều miền núi


Thursday, June 5, 2014

"Mười hai năm nô lệ" - ánh sáng tâm hồn dưới lằn roi kí ức

Cuối năm 2013, bộ phim Mười hai năm nô lệ của đạo diễn Steve MacQueen được công chiếu tại Mỹ và nhanh chóng gây được tiếng vang lớn. Phần đông khán giả Mỹ - bằng những xúc động mạnh mẽ được khơi lên từ những thước phim đắt giá đã nhận định ngay rằng bộ phim này chắc chắn sẽ đoạt giải Oscar mà không cần đến bất kì kinh nghiệm chuyên môn nào về phim ảnh. Quả nhiên, sức lay động của bộ phim đã giúp nó giành được giải thưởng cao quý nhất: Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất. Xúc cảm vẫn là yếu tố hàng đầu trong mọi đánh giá về nghệ thuật, hay nói đúng hơn, nó là yếu tố vượt ra ngoài mọi khung điểm chuyên môn, bao trùm lên toàn bộ các yếu tố mang tính kĩ thuật. Vậy, điều gì đã khiến cho bộ phim có thể chạm đến trái tim của hàng triệu người xem, đã khiến nước mắt phải rơi trên những khoé mi khô khan nhất?
    Tôi - người đã nấc nghẹn suốt hơn hai giờ đồng hồ xem phim có thể dựa vào chút mẫn cảm tự nhiên mà đồ rằng: đó là vì những dòng chữ đầu tiên trên màn hình: bộ phim dựa trên câu chuyện có thật của một người nô lệ - Solomon Northup. Không có gì thuyết phục ta hơn sự thực. Và dĩ nhiên, không có gì lay động tâm tư ta hơn một câu chuyện có thật từ một đồng loại khổ đau. Đó cũng là lí do mà tôi vẫn tiếp tục tìm đến cuốn tự truyện của người nô lệ Solomon Northup, hầu mong được gần gũi hơn một linh hồn sầu khổ tội nghiệp - người đã bị đánh cắp tự do và bị biến thành thân nô lệ cả quãng đời 12 năm.
    Lẽ thường, những người yêu sách vẫn thường thất vọng với những cuốn phim chuyển thể từ sách. Đơn giản là bởi trong khi sách mở ra bao la những tưởng tượng và hồi âm mang tính cá biệt của từng độc giả thì phim dường như lại đóng khuôn cảm xúc của người xem vào một lựa chọn thể hiện. Trong trường hợp của Mười hai năm nô lệ, tôi không muốn đặt ra bất kì so sánh nào giữa truyện và phim, bởi lẽ, bộ phim đã thực sự gây dựng được một không khí quánh đặc bất công của chế độ nô lệ, với những cảnh quay đặc tả và ám gợi. Ở đó, ta đã gặp một lựa chọn thể hiện xuất sắc của đạo diễn. Tuy nhiên, tính chất tự truyện của cuốn Mười hai năm nô lệ vẫn gây hấp dẫn cho bất kì ai muốn đến gần hơn nữa với sự thực. Cuốn sách là lời tự sự bằng những dòng hoài niệm của chính người nô lệ Solomon Northup. Những hồi ức kinh hoàng, tủi nhục của đời nô lệ được viết ra bằng chính máu và nước mắt của người kể và người cầm bút một mặt khiến ta thấm thía hơn sự thực đắng cay của một số phận, mặt khác, vẫn chừa lại những khoảng trống giữa dòng để trí tưởng tượng và cảm xúc của độc giả có cơ hội thăng hoa trong đồng điệu. Những khoảng mở quý giá dành riêng cho độc giả như thế, chúng ta không thể tìm thấy ở nghệ thuật điện ảnh - nơi bắt buộc ta phải chú tâm vào diễn biến câu chuyện theo từng cú máy, từng khoảnh khắc phim.
    Cuốn tự truyện là lời kể điềm đạm và giản dị của Solomon Northup về quãng đời mười hai năm nô lệ của ông - dưới cái tên cụt lủn không họ không nguồn - Platt. Nội cái tên cộc lốc mà bọn buôn người đã sỗ sàng dúi vào Solomon nhằm lấp liếm cái tên họ Solomon Northup có nguồn cơn căn cớ hẳn hoi của ông đã nói lên rất nhiều điều về chế độ nô lệ. Cái tên cộc như tên gọi một con vật không hơn. Cái tên trơ trọi nhõn một âm như ép buộc người ta cắt đứt hết mọi ràng buộc với thế giới con người và những quan hệ tự nhiên của con người: gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái. Cái tên cô độc bơ vơ phải nhận gạo đã nói lên thực tế khắc nghiệt rằng, kiếp nô lệ không cho phép sở hữu bất kì cái gì, kể cả cái tên. Những người nô lệ bị bóc lột đến tận cùng xương tuỷ và tinh thần, bị dứt lìa khỏi mọi ràng buộc xã hội, bị lột truồng nồng nỗng mọi sở hữu tinh thần dưới con mắt soi mói kiếm chác của bọn chủ nô. Có lẽ ý thức về tất cả những điều đó, con người từng hưởng thụ tự do - Solomon đã kiên quyết chối từ cái tên Platt cho đến khi ngộ ra, ông đã bị đẩy xuống một thế giới khác - ở đó, phản kháng đồng nghĩa với đòn roi.
    Câu chuyện tưởng như là đơn tuyến với nhân vật chính là người kể chuyện và một kết cấu sáng rõ có đầu có đuôi, nhưng kì thực, cuốn tự truyện ấy đã mở ra bao nhiêu trang đời khác nhau với tính chất đa tuyến phức tạp như thực tế cuộc đời. Những mảnh đời nô lệ - những người đã chia sẻ một quãng sống đau đớn nào đó cùng Platt - là những mảnh đời dạt trôi vô định. Dù người kể chuyện đã cố gắng theo sát, quán xuyến một số mảnh đời bằng kí ức, tin đồn để mô tả sao cho trọn vẹn, nhưng còn vô số những cái tên chỉ được nhắc đến dăm ba lần rồi mất hút trong điệp trùng những chữ nghĩa khổ đau, điệp trùng máu và nước mắt. Người mẹ nô lệ khốn khổ Eliza cuối cùng đã chết mỏi mòn trong nhớ thương hai đứa con thơ dại, nhưng còn chúng - cậu bé Randall nhanh nhẹn và cô bé Emily xinh đẹp kia đã sống đời nô lệ ra sao sau khi bị dứt lìa khỏi mẹ? Cô nô lệ tươi tắn Patsey bị dập vùi không thương tiếc bởi lão chủ nô dâm đãng và bà vợ ghen tuông rồi đã gánh tiếp đòn roi thế nào khi không có Solomon ở bên đỡ đần? Đời họ rồi đi về đâu, Solomon không biết và cũng chẳng ai hay biết? Lịch sử cũng chỉ nhắc nhớ họ bằng cái tên chung khốn mạt của thời đại khốn mạt ấy: người nô lệ. 
     
    Mạch truyện đi theo dòng thời gian tuần tự giản dị: trước - sau nhưng vẫn có những nếp gấp khó cưỡng của những cú ngoái lại quá khứ và những khúc quanh bởi những pha đón bắt thì tương lai. Những ngoái lại và đón bắt ấy diễn ra tự nhiên bởi những nguyên do xúc cảm của người kể chuyện chứ không hề là trò tiểu xảo viết lách. Bởi lẽ, cuốn sách được viết theo thể loại tự truyện nên bản thân câu chuyện đã là cả một sự ngoái lại bằng hoài niệm và kí ức. Trong trường ngoái lại ấy, với những thảng thốt kinh hoàng khi nhận ra mình bị bắt cóc, với những phẫn nộ, ai oán khi bị rơi vào tay những kẻ chủ nô tàn độc, với những ấp iu hy vọng và vô số những cảm xúc khác, người viết khó có thể nén nỗi xúc động để câu chuyện tự diễn biến mà không có bất kì can thiệp xúc cảm nào. Nhưng cũng nhờ vào lối kể tự nhiên, chân thật ấy, Solomon đã khiến độc giả được gần gũi hơn và cảm thấy mến mộ con người ông. Ngay trong những trang đời đau đớn nhất, Solomon cũng không để người đọc phải tụt xuống hố thẳm của tuyệt vọng (như ông đã từng) bằng lối kể đón bắt tương lai. Đâu đó, trong những nỗi khổ đau cùng cực, ta vẫn thấy lấp lánh ánh sáng tự do, tình yêu công lí và đức tin vào Chúa Trời. Có lẽ những điều đó đã nâng đỡ Solomon trong quãng đời tăm tối nhất của ông cho nên, trên trang viết, ánh sáng của những sức mạnh tinh thần ấy lại soi rọi từng con chữ, nâng đỡ chính những linh hồn độc giả đang mò mẫm sống lại quãng sống cực nhọc của ông. Đọc Mười hai năm nô lệ, người đọc không chỉ đồng cảm với một kiếp ngựa trâu mà hơn thế, còn cảm thấy được kiếp người ấy hiến dâng cho mình một bài học lớn về đức tin và lòng hướng Thiện, nỗi khao khát tự do.
     Trong những lời kể thành thực và cảm động của mình, Solomon đã vẽ nên bức hoạ chi tiết về chân dung người nô lệ - những người làm bạn với đòn roi, ốm đói và kiệt sức nhưng vẫn không thôi khao khát tự do, không thôi nung nấu ý định chạy trốn và giấc mơ được sống ở nơi thiên đường không nô lệ Bắc Mỹ. Cũng trong những lời kể ấy, ông đã vẽ nên chân dung những gã chủ nô với những đường nét không đồng nhất, bởi có người chủ nô được ông kính mến chân thành, có người chủ nô ông khinh ghét cùng cực. Điều đó càng cho thấy, Solomon đã hoàn toàn để trái tim dẫn dắt những hồi ức của mình. Không phải vì là một nạn nhân của chế độ nô lệ hà khắc mà ông gộp tất cả bọn chủ nô vào một rọ độc ác. Ông kể về những người chủ tốt của mình với một cái nhìn chiêu tuyết, vì ông tin rằng, nếu họ sống trong một môi trường khác, Thiện tính của họ sẽ được phát huy.
    Dù câu chuyện được viết nên khi Solomon đã trở lại làm người tự do, nhưng những lằn roi nô lệ vẫn hằn lên trên từng trang viết, ám ảnh khôn nguôi. Khi mô tả khoảng cách không gian, tác giả dùng hình ảnh roi da làm định lượng: “Xưởng dệt mà chúng tôi đang xây cất nằm giữa một vườn cây ăn quả cách dinh cơ Chapin, còn gọi là “nhà lớn”, vài sải roi da” (trang 97) Có lẽ, chính ông cũng không ý thức được những lằn roi ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của chính mình. Và dù may mắn thoát khỏi vòng nô lệ, dù được quay trở về với gia đình sau mười hai năm sức cùng lực kiệt trên những cánh đồng bông, cánh đồng mía, dưới làn mưa roi tàn bạo, dù vẫn nuôi trong lòng ánh sáng của công lí, lẽ phải và tự do nhưng trong thẳm sâu người nô lệ ấy vẫn nhức nhối nỗi đau chung cho kiếp sống bất hạnh của đồng loại mình. Tôi tin những giấy tờ, văn tự mà Solomon trưng ra trong cuốn sách không chỉ nhằm xác thực những thông tin trong cuốn tự truyện mà còn bởi sự thôi thúc chứng minh bằng chứng tự do của chính ông - người đã bị biến thành “động sản” của đồng loại chỉ sau một đêm bị cướp sạch giấy tờ. Những giấy tờ ấy với tôi cũng là những vết hằn của đời nô lệ.
    Với Mười hai năm nô lệ, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đọc và tự chiêm nghiệm. Có thể bạn cho rằng, chế độ nô lệ đã lùi xa, câu chuyện của một người nô lệ thì có gì đáng kể? Nhưng bạn ạ, đọc đi rồi sẽ thấy, biết đâu, bạn cũng đang tự nô lệ hoá chính mình trong công việc bộn bề, trong những trò vô bổ hay sự biếng nhác của tâm hồn, dưới một bầu trời tự do hiển nhiên không phải trả giá. Hãy đọc chuyện đời của một người nô lệ, để biết yêu hơn thứ tự do mà bạn đang có, hơn thế, để biết tận hưởng đến cùng hương vị của tự do. 

(Bài đã đăng ở:
http://vannghetre.com.vn/vi/tin-anh-slide.nd197/muoi-hai-nam-no-le---anh-sang-tam-hon--duoi-nhung-lan-roi-ki-uc.i789.html )

Monday, August 24, 2009

Ngàn năm tình sử


Vở kịch đầu tiên xem ở Sài Gòn - nơi các sân khấu kịch nhiều như nấm mọc sau mưa là vở "Ngàn năm tình sử" (đạo diễn Thành Lộc). Lần trước vào SG đã "rắp tâm" đi xem vở này (vì đã đọc kịch bản của Nguyễn Quang Lập từ năm ngoái và khá băn khoăn về chuyện nó lên "sàn" sẽ ra làm sao) nhưng vở lại chưa chính thức công diễn. Cuối tuần vừa rồi vào SG cái là lon ton đi mua vé ngay. Nhà hát Bến Thành tối thứ 6 chật ních người.
Với vở này, Thành Lộc đã hoàn toàn thuyết phục người xem ở vai trò là diễn viên nhưng anh lại chưa thực sự thuyết phục ở vai trò là đạo diễn. 
Thất vọng đầu tiên khi xem vở này là Thành Lộc đã bỏ mất cái điệp khúc đồng dao mà nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đưa vào kịch bản như những dấu chấm lửng đầy ngụ ý: 
Ta linh tình phập
Cái sự làm sao?
Cái sự thế nào?
Cái sự như vầy!
Ta linh tình phập

Ta linh tình phập
Cái sự làm sao?
Cái sự thế nào?
Cái sự như vầy!
Ta linh tình phập

Việc tước bỏ bài đồng dao này ra khỏi vở diễn cũng đồng nghĩa với việc đạo diễn tước bỏ hoàn toàn cái không khí dân gian, dã sử trong vở kịch. Thay vào đó, Thành Lộc lại đưa âm nhạc hiện đại vào vở diễn (Nắng có còn xuân - Đức Trí) khiến người xem có cảm giác, anh muốn thay thế không khí dân gian đáng có bằng không khí ướt át kiểu "sến". Đây cũng chính là nỗi thất vọng thứ hai.
Vở kịch có 2 phần (căn cứ theo việc khán giả được nghỉ giải lao uống nước, hehe). Nếu phần 1 thành công trong việc lôi kéo sự chú mục của khán giả vào 2 nhân vật chính bằng những trường đoạn khá thú vị thì phần 2 dường như lại là 1 nỗ lực "phủi bay phủi biến" thành công của phần 1. Lý do là đạo diễn quá ôm đồm ở phần 2, khiến hình tượng nhân vật chính bị mờ đi bởi quá nhiều chi tiết thừa cho các nhân vật phụ. Có vẻ như Thành Lộc khá ưu ái với vai thái hậu Thượng Dương khi cho nhân vật này quá nhiều thời gian để diễn những thứ rất "trời ơi đất hỡi", nhưng tóm lại, biên độ ý nghĩa của vở kịch không mở ra được thêm tẹo nào với vai diễn này mà sự buồn ngủ lại xâm chiếm khán phòng.
3 tiếng cho 1 vở kịch tối cuối tuần không phải là uổng phí. Nhưng giá như đạo diễn cắt bớt các chi tiết thừa cho vở diễn cô đọng trong khoảng 2 tiếng rưỡi (kể cả giờ nghỉ giải lao) thì hoàn hảo! (Vì như thế thì khán giả còn có thời gian lượn phố ăn vặt, :D ) 

Wednesday, April 22, 2009

Valkyrie

Bỏ qua cái Fast and furious chỉ có khả năng kích động giác quan bằng những tiếng gầm rú của động cơ, coi như bộ phim tương đối ấn tượng đã xem gần đây là Valkyrie với sự có mặt của Tom Cruise. Lâu lắm mới xem Tom diễn xuất, anh này già thật rồi...
Valkyrie đơn giản chỉ là sự tái hiện lịch sử về quá trình hành động của một nhóm sĩ quan cao cấp trong chính phủ Phát xít Đức nhằm ám sát Adolf Hitler. Những ai đã đọc cuốn "Sự suy tàn và trỗi dậy của đế chế thứ ba" (William L.Shirer) thì đều biết chắc kịch bản phim hoàn toàn dựa vào cuốn sách này.
Về vụ ám sát nổi tiếng này, cũng từng có một bộ phim tài liệu (chả nhớ của nước nào, tình cờ xem đúng mỗi 1 lần) đã mô tả sự phục dựng, tái tạo lại từng chi tiết với sự góp mặt của nhiều chuyên gia về kiến trúc, về vũ khí... Họ làm tất cả những việc đó với mong muốn tìm hiểu lý do tại sao vụ ám sát đó đã xảy ra nhưng hoàn toàn thất bại, tại sao Hitler có thể thoát chết một cách kỳ diệu như thế. Lý do được đưa ra là sự di chuyển tình cờ của cái cặp chứa bom, hic.
Nếu chưa đọc "Sự suy tàn và trỗi dậy của đế chế thứ ba" và chưa xem bộ phim tài liệu kia thì chắc chắn là Valkyrie không thu hút nàng đến thế. Câu chuyện đã biết trước kết cục, song vẫn có cái hồi hộp riêng khi trải nghiệm từng chi tiết. Vượt qua kết cục "đã biết rồi" để khơi dậy cảm giác và hứng thú của người xem, đó là 1 thử thách không nhỏ đối với thể loại phim lịch sử như thế này. Valkyrie ít nhất đã thành công về phương diện ấy.

Sunday, April 12, 2009

Hoà nhạc

Thứ 7 vừa rồi đi nghe nhạc của Johann Sebastian Bach. Tình cờ lại gặp đúng cái ông nhạc trưởng người Nhật Honna Tetsuji mà cách đây 1 năm rưỡi đã gặp ở Nhà hát lớn. Còn nhớ rõ, đó là buổi tối như thế nào... Không nhớ buổi hòa nhạc hôm ấy nghe nhạc gì, chỉ nhớ cái cảm giác lê thê, ảo não của những trường đoạn dằng dặc. Lần vừa rồi thì khác. Nét nhạc tươi vui, mê hoặc.
Ờ, mà ngẫm ra có thể coi tuần vừa rồi là tuần lễ Nhật Bản được. Làm cái gì cũng dính dáng 1 chút đến Nhật, buồn cười... (Cái gì cũng thú vị, trừ vụ bon chen đi xem Lễ hội hoa anh đào, sic!)

Wednesday, March 4, 2009

Revolutionary Road

Tối hôm qua đội mưa đi xem phim.
Trễ 10'. Buông mình xuống ghế là đập ngay vào mắt cảnh cặp vợ chồng April - Frank đang cãi nhau kịch liệt. Hai tiếng căng thẳng cùng những diễn biến tâm lý phức tạp của đôi vợ chồng trong đời sống gia đình thường nhật của họ. Rạp vắng, rất nhiều người bỏ về giữa chừng. Có lẽ, họ khước từ những mỏi mệt, đau đớn ở nơi mà họ chỉ đơn giản là muốn được giải trí. Như một người bạn của nàng đã thất vọng thốt lên sau khi xem: Chả có kịch tính, chả hay, chả để làm gì... Tự nhiên, nàng lại cảm thấy mình sao mà lạc lõng.
Toàn bộ tâm trí nàng hầu như bị hút vào từng cảnh, nhất là những cảnh đặc tả tâm lý (cảnh April sững sờ cầm điếu thuốc, nghe người điên lý giải về sự tan vỡ của kế hoạch đi Paris, nghe chồng và người điên ấy cãi lộn; hoặc là cảnh căn phòng vắng lặng với gam màu trắng lạnh và vết máu loang trên thảm... ).
Đôi vợ chồng ấy, nếu biết sống đơn giản thì có lẽ là một đôi hạnh phúc. Họ có một ngôi nhà nhỏ xinh đẹp, 2 đứa trẻ dễ thương, 1 công việc ổn định. Nhưng họ lại là những người biết khát khao và tự nhận thức rất rõ về đời sống vô vị, trống rỗng và không hy vọng của mình. Họ muốn 1 đời sống khác. Họ muốn sống tràn đầy cảm hứng, muốn nắn nót cảm nhận về tất cả mọi thứ xung quanh.
Những hy vọng loé sáng trong cuộc đời họ tình cờ đến từ bức ảnh cũ thời trai trẻ của Frank ở Paris. Chuyến đi Paris là tất cả mỏi mong, hy vọng của April và Frank về một sự đổi thay, về một đời sống thực sự. Kế hoạch ấy đẹp đẽ tới mức có thể khiến April và Frank cảm thấy hạnh phúc trong một thời đoạn ngắn ngủi khi bắt đầu nghĩ về sự tồn tại của nó và chuẩn bị cho nó. Nhưng, nó cũng quá hoàn hảo để rồi tạo ra một vết thương lớn trong lòng họ khi bỗng chốc tan vỡ. Họ thật quá ngây thơ khi ảo tưởng rằng, chỉ cần tới Paris là mọi thứ sẽ đột nhiên tươi đẹp như họ mơ ước, chỉ cần chuyển dịch địa lý thì tâm trạng cũng tức khắc chuyển dịch về phía ánh sáng... Cái mà thực sự họ muốn - là một đời sống mới mẻ, tràn đầy hy vọng như thuở ban đầu. Họ muốn lột xác, muốn tái sinh cho đời sống của chính mình và ngây thơ tin rằng, Paris là tất cả!
Nàng thấu cảm sâu sắc với April về sự suy sụp tinh thần sau khi mơ ước đổ nát dưới nhịp sống nặng nề, mòn mỏi thường nhật. Nàng đã gặp rồi, người phụ nữ khóc nức nở trong căn bếp nhỏ, với cõi lòng tan nát mà tay vẫn rửa bát theo thói quen hàng ngày! Nàng không quên nỗi thất vọng sau mỗi lần kế hoạch đổ vỡ. Đó là thứ tâm trạng không bao giờ có thể quen được, dù nàng đã được rèn luyện từ nhỏ. Chỉ có điều, sự rèn luyện ấy giúp nàng biết nghĩ thêm nhiều tình huống khác, ngoài tình huống lung linh lúc nào cũng sẵn trong đầu và trong các kế hoạch. Có lẽ vì vậy mà cho đến giờ, nàng rất ghét phải từ bỏ bất kỳ một kế hoạch nào, dù do bất kỳ lý do gì. Có lần, C bảo: Sao em phải cứng nhắc như thế nhỉ? Chuyện đó có gì quan trọng lắm đâu mà phải làm ngay, làm ngay... C đâu hiểu rằng, đó là chuyện nhỏ nhưng với tâm lý của nàng, nó có ý nghĩa cực kỳ lớn!
Bạn bảo: phim chả có kịch tính gì cả. Nàng lại thấy thắt tim khi nhìn thấy Frank thất thần chới với bước ra từ phòng cấp cứu. Cô ấy chết ư? Đơn giản thế thôi ư? April chắc cũng không nghĩ mình sẽ chết. Cô chỉ muốn giải phóng mình khỏi vòng quẩn quanh nhàm chán của đời sống. Nàng thấy môi mặn nước mắt. Thấy mình sao mà già nua...
Phim rất đọng, vì đó là đời sống. Bạn bảo lẽ ra nó đáng được trao giải Oscar, vì quái quái! Slumdog Millionaire cũng rất hay, nhưng một kiểu khác! Dù rất ấn tượng với những cảnh quay chân thực về khu ổ chuột ở Ấn Độ và đời sống của những đứa trẻ ở đó, dù hoàn toàn mãn nguyện vì "happy ending" nhưng nàng vẫn ưa lối kể chuyện giản dị và cái kết cay đắng hiển nhiên của Revolutionary Road hơn.

Tuesday, November 4, 2008

Entry for November 05, 2008

Đúng là công toi! Sáng nay mắt nhắm mắt mở dậy đi học, ì ạch trong đám tắc đường, cũng ngạc nhiên quá sức vì phải lội qua một đoạn nước ngập ở phố Phạm Ngọc Thạch. Đến Viện Hán Nôm thấy vắng hoe vắng hoắt, bác bảo vệ hỏi, cô đến có việc gì? Học hả, nghỉ rồi nhá! Ngán ngẩm. Thôi, thì coi như sáng ra bát phố vậy. Với lại, cũng cho cái xe của mình "hòa chung không khí" lội nước của Thủ đô chứ. Mấy ngày lụt, cứ co ro ở nhà, không đi sâu đi sát với quần chúng gì cả. Hôm qua nghe mấy đứa trên Viện kể chuyện suốt mấy ngày không được ăn cơm, đói lả, muốn ăn thì phải bơi đi mua mỳ tôm trong dòng nước bẩn tưởi, mấy chục tiếng đồng hồ phải ngồi chóc ngóc trên cái giường kê cao bằng gạch, thật khó tưởng tượng.
Nhưng mà ngẫm lại, vẫn thấy tức cành hông vì phải bỏ dở giấc ngủ. Đêm qua mắt cứ chong chong, không buồn ngủ tẹo nào, thế là đọc nốt cuốn "Cuộc đời của Pi". Càng đọc càng thấy thú! Đọc và có cảm tưởng gặp lại ông già trong "Ông già và biển cả", dĩ nhiên, về độ hài hước và cô đọng thì Yann Martel khó mà so sánh với Hemingway được. Nhưng cái kết truyện đầy bất ngờ và gây nghi hoặc cho người đọc. Nào, để xem, liệu có phải, những con thú đi cùng xuồng với cậu bé Pi ấy chỉ là những ẩn dụ về con người? Ông nhà văn này giỏi ở chỗ, đến những dòng cuối cùng rồi vẫn phát khởi được ở người đọc cái ham muốn đọc lại từ đầu cuốn sách.
Lượn lờ trên net, thấy chủ yếu 2 tin chính, lũ lụt thủ đô và Bầu cử tổng thống Mỹ! Chắc Obama thắng!

Wednesday, October 29, 2008

Entry for October 30, 2008

Sáng nhận được email của Rùa và Nhím. Nàng ngồi lặng lẽ khóc bên máy tính. Bài thơ đứt đoạn Rùa gửi cũng là bài thơ nàng thường nghĩ đến mấy hôm nay, kỳ lạ thật.
Sợi tóc mềm kéo qua thời trẻ
Sẽ phai màu qua mưa nắng đấy em...
Nàng tin, rất tin vào linh giác của mình. Như buổi chiều chủ nhật mưa hôm ấy. Như cái thót mình trong thư viện, như cái thảng lặng trước cánh cửa ấy. Đã bao lần, nàng tự nhủ, nhạy cảm để làm gì khi cái nhận được chỉ luôn là những phát hiện đớn đau? Đã bao lần, nàng muốn chối từ những linh tính thốt nhiên của chính mình, vì lo sợ sẽ rơi vào những hố thẳm điên rồ. Bây giờ thì nàng hiểu, nàng không cần phải bỏ qua linh tính, ko cần phải hủy diệt cái ánh sáng mạnh mẽ của tiềm thức mà nàng may mắn có được. Có điều, nàng sẽ phải hướng cái linh tính ấy về những hướng quan trọng của đời mình. Nàng sẽ làm được!
Tuần trước, nàng vật vã đọc "Amrita". Chưa có cuốn sách nào nàng đọc đứt nhiều như thế! Cứ cầm sách đọc được vài chục trang là tức ngực, phải chạy đi làm việc gì đó khác. Vì lẽ gì nhỉ? Vì nàng sợ, nàng cũng là một kẻ sợ hãi, cô độc trong những mất mát và chia ly không ngờ đến như cô gái ấy. Nàng hồi hộp chờ kết thúc và nhận ra, đời sống rốt cùng cũng chỉ là những chấp nhận. Cái sâu sắc, điên cuồng, lãng mạn cuối cùng cũng phải phục quỳ trước hiện thực nghiệt ngã của đời sống. Cô gái ấy chấp nhận tình yêu không còn lành lặn, chỉ để cảm thấy rằng, mình không đang mất mát, không đang cô đơn. Có phải, dù có trong tay một thứ không lành lặn còn hơn không có gì cả???
Hà Nội mưa! Hôm nay nàng mặc áo lụa đỏ!

Friday, October 24, 2008

Entry for October 25, 2008

7h sáng thứ 7. Khi cơ thể còn oải lịm trong cơn mê ngủ nhưng đầu óc đã tỉnh táo, nàng vớ lấy cái cellphone nhắn tin tí tách. "Xin lỗi anh, em ko dám nhận đâu. Anh tìm người khác thôi ạ!". Nhắn xong mới yên tâm ngủ tiếp. Nàng đã băn khoăn suốt từ đêm hôm qua về lời đề nghị của a.K. Ừ, tiền thì cần thật, nhưng có cần phải bán rẻ nghề nghiệp của mình như thế ko? Nghĩ đến cái luận án của mình, nghĩ đến cái luận văn mà Rùa đang hì hục viết ở Vinh, mình ko đang tâm nhận lời đề nghị ấy. Nghĩ đến việc mình phải lao lực để có kẻ phè phỡn nhận tấm bằng rởm là mình ko chịu được. Nhưng a.K cứ nài nỉ, ỉ ôi cả buổi tối, làm nàng cũng ko đành lòng từ chối cái hẹn sáng thứ 7. Chỉ gặp thôi, chỉ xem thế nào thôi, rồi chối cũng chưa muộn. Bây giờ nàng mới nhận ra là trong khi ngủ, cái đầu óc cần mẫn của nàng vẫn làm việc, vẫn tính toán, vẫn suy tư miệt mài. Kết quả là 7h sáng thì cái trí óc sáng suốt ấy đã điều khiển nàng nhắn tin thẳng thừng cho a.K. Ôi, nhẹ cả người!
Nàng dậy muộn. Trong đầu vẩn vơ những đám mây xám xịt của giấc mơ đêm qua. Nghêu ngao đi chợ, nghêu ngao nấu cơm trưa. Nghêu ngao xem một bộ phim Nga. Ban đầu là ấn tượng với cậu bé ngộ nghĩnh, ko còn bố, sống cùng mẹ - một bà mẹ trẻ và đang dan díu với một tên chuyên lừa đảo. Thằng bé ngây thơ, đáng yêu ấy khiến nàng cảm thấy muốn khóc. Thương nhất là cảnh nó chạy theo cái xe tù và hét lên: "Bố ơi" với người đàn ông xa lạ đã đến và đưa mẹ con nó bước vào một đời sống phiêu bạt, lang thang, chui nhủi. Cậu bé ấy cũng như người mẹ trẻ của cậu đã sống phân vân trong nỗi khát thèm một người đàn ông làm chỗ dựa và nỗi đau đớn, ghê tởm những hành động bẩn thỉu của y. Khi người mẹ cương quyết ra đi, đưa đứa con trở về đời sống bình thường, tình yêu thiết tha với tên bất lương vẫn khiến cô níu kéo hắn. Cậu bé bỏ chạy khi thấy mẹ nó phân vân. Nhưng, khi hắn bị bắt, khi cảm nhận thấy một mất mát đến bất ngờ, cậu bé ấy lại giống hệt người mẹ, lại van vỉ trong tuyệt vọng: "Bố ơi, đừng bỏ hai mẹ con con lại". Cậu bé con ấy khao khát một mái ấm, một người cha. Thế mà sau đó ko lâu, người mẹ qua đời. Cậu nhóc sống trong trại mồ côi, cảm thương thay, nó lại sống bằng tia hy vọng sẽ gặp lại người cha "hờ" ấy. Đó là người thân duy nhất còn lại của nó.
Người ta sẽ lớn lên, sẽ trưởng thành bằng những lần vỡ mộng. Cậu bé ấy cũng đã lớn bằng một lần tỉnh mộng đầy đớn đau như thế. Khi đi theo tiếng hát của bài ca quen thuộc thời thơ ấu, cậu bé tìm lại được người đàn ông của mẹ. Cậu gọi "Bố" trong nỗi nghẹn ngào, xúc động. Ấy thế mà nhận lại từ hắn chi là sự thờ ơ, quên lãng đáng sợ. Phim kết lại bằng hành động nổ súng, giết chết người mà cậu đã ôm ấp hy vọng sẽ bên cậu để làm thành mái ấm. Cậu đã trưởng thành, đã biết đó là ảo mộng tuổi thơ.
Nàng lẩn mẩn mãi với nỗi xót thương ấy. Vì ko xem từ đầu nên ko biết đấy là phim gì. Nhưng ánh mắt trong veo, có chút gì tồi tội của cậu bé ấy thì nàng ko quên được...

Thursday, October 23, 2008

Âm mưu và tình yêu

1. Đàn bà có 2 loại: một loại là nô lệ và một loại là thống trị. Nếu ko được làm nô lệ cho người yêu của mình, thì việc làm thống trị tất cả đàn ông trên thế gian cũng chỉ có thể đền bù chút xíu lòng kiêu hãnh của ta thôi.
Đó là câu quận chúa Minpho đã nói trong cơn cùng cực của cảm xúc. Sáng nay, nàng xem "Âm mưu và tình yêu" của Sinlơ ở Nhà hát tuổi trẻ. Vai Minpho do Lê Khanh đóng là vai có nhiều đất diễn, cũng là vai gây xúc động nhất cho nàng. Luidơ và Ferdinăng thì đều quá ngây thơ và mù quáng vì ái tình (có lẽ nàng giống họ chăng?). Họ đẹp như kim cương và trong trẻo như phalê, nhưng sự trắng trong ấy trở nên thật tội nghiệp trong những toan tính gớm ghê của những thế lực tàn bạo. Chỉ có Minpho - người đàn bà từng trải, người đàn bà có thừa sự lẳng lơ, phong tình và kiêu ngạo để bọn đàn ông quý tộc phải quỳ mọp dưới chân; cũng người đàn bà có thừa sự khôn khéo để cướp lấy dây cương quyền lực đang lồng lộn lộng hành trong những bàn tay tàn nhẫn của đám quyền quý; chỉ có người đàn bà ấy mới là người đạt đến tầm sâu của nội tâm.
Cái chênh vênh hình như lúc nào cũng ẩn chứa trong nó cái hoàn mỹ nhất đồng thời cũng là cái mong manh nhất. Minpho đẹp ở chính cái bờ vực ấy, giữa cái gầm gào kêu thét của lòng kiêu ngạo trong một người đàn bà có thể điều khiển cả thế gian với sự nhún nhường vì niềm kính mộ tình yêu non nớt, tươi trẻ của Luidơ và Ferđinăng; giữa sự căm hận điên cuồng lũ bạo chúa và chút yếu đuối phụ nữ phải ràng buộc vào lũ đàn ông đáng tởm bằng nhan sắc của mình...
2. Bước ra khỏi rạp, nàng không khỏi nghĩ về vở "100 ngày cuối cùng của Hàn Mạc Tử" cách đây 2 năm. Nghĩ về ánh mắt ấy, cái dáng chờ đợi ấy, cái vẻ gallant bặt thiệp ấy nữa... Thời gian có thể lấy đi mọi thứ, phải không cô bé?!

Wednesday, August 22, 2007

Yêu như người dân tộc!

Hôm nay ngồi "khảo" cuốn Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam cả buổi, thấy thú vị thật! Người miền núi yêu nhau, giận hờn nhau sao mà hồn hậu, tự nhiên và đẹp đẽ. Nghe họ tán nhau đây:
Ngủ mơ nghe tiếng hát
Ngủ mơ nhìn thấy nhau
Mơ thấy anh kề sát
Cùng nắm tay nghiêng đầu
Mơ thấy anh ăn trầu
Vui đùa em cướp lấy
....
Đôi ta hãy kề nhau
Sẽ sẻ canh hai bát
Sẽ chia đũa hai đôi
Nắm nắm xôi dành sẵn!
Về nằm đệm nẹp đỏ
Về nằm đệm nẹp đen
Vía anh yêu gọi về cạnh em!
Mổ vịt phần lườn cánh
Bóc trứng phần lòng đỏ
Gối sẻ nửa em chờ
Chăn chia đôi em đợi
Em đợi chờ anh trong giấc mơ.
Ướm hỏi nhau, ngấm nguýt nhau cũng "chua chát" đến điều:
- Anh qua suối khéo đắp cá
Qua ruộng khéo cấy giâm
Mười chín đận tình, nay mới tới em?
Có sao đâu cứ nói thực
Đã cắt, cắt cho nhẵn
Đã gọt, gọt cho bằng
Cho trơn như nàng Mường Than gọt ống suốt
Em ngốc nghếch thật thà
Lời đã nói chẳng rút lại được
Anh yêu hai tình còn gửi khăn điều
Xoắn hai vợ còn quấn khăn lụa
Lời anh réo rắt trên lưỡi, em nghe để dạ
Xót thầm trong dạ nào ai biết cho?
Anh có vợ, chối không, định đùa ghẹo em a?
- Nón Kinh chưa lên vành
Nón tát chưa buộc quai
Anh là trai trơn xin đến tìm vợ
...
Thấy vực sâu muốn lặn
Thấy vực xanh muốn uống
Chỉ e rêu trôi đến ngăn
Chỉ sợ chồng em đến chắn
Nước ngập núi anh cũng cố lặn
Nước tràn bờ anh cũng cố bơi
Chỉ e bơi giữa thác công toi
Ngụp trong sóng phí sức.

Sunday, August 19, 2007

Học thuật vui vẻ!

Học thuật không có nghĩa là không vui vẻ! Nhưng có lẽ, người ta quen nghĩ rằng chuyện học thuật luôn nghiêm nghị và hình ảnh đại diện tiêu biểu vẫn là những cái trán nhăn! Nàng thì biết, chuyện học thuật lắm khi thật là vui vẻ!
Tuần trước, nàng được cử đi giao lưu với các nghiên cứu viên trẻ của Đài Loan trên Viện lớn. Cứ nghĩ chuyện giao lưu này chẳng có gì hay ho lắm. Háo hức mỗi chuyện sẽ gặp lại một số bạn bè ở Viện khác thôi. Hóa ra (có những thứ "hóa ra" thật đáng yêu và thú vị!), cuộc giao lưu này khiến nàng bị thu hút thật sự! Những vị giáo sư, phó giáo sư trẻ măng của Đài Loan khiến nàng thấy nể phục. Những cuộc tranh luận sôi nổi cũng khiến mọi người cười nhiều hơn là nhăn trán. Nàng có cơ hội thực hành tiếng Trung với những người bạn lạ. Nhưng hầu hết mọi lần tiếp xúc, ngôn ngữ sử dụng luôn là vừa Trung, vừa Anh và thế cùng bất đắc dĩ thì lại dùng độc chiêu "hoa chân múa tay" - ngôn ngữ cơ thể, hehe! Xung quanh chuyện phiên dịch, "thông diễn" cũng khối chuyện hay!!! Quả là học thuật vui vẻ của những người trẻ tuổi.

Wednesday, June 20, 2007

Biển


Đã bao giờ biển biết lặng im
Mà nghe gió của bờ xanh tha thiết
Ồn ào quá, rồi thành ra nông nổi
Sóng chẳng thể nào hết vội được ư?
***
Sóng chẳng thể nào hết vội được ư?
Phù sa biển sao lắng vào tận đáy
Ừ, dữ dội, ừ thì ồn ã đấy
Nhưng chỉ thế thôi, vũ trụ sẽ nguôi quên
***
Chỉ thế thôi, vũ trụ sẽ nguôi quên
Dù lòng biển vẫn thắp sao mỗi đêm mùa hạ
Dù bầu trời in trong mênh mông biển cả
Biển chẳng hiểu rằng xa ngái quá hay sao?
***
Biển mỗi ngày mang một giấc chiêm bao
Sao chẳng thể lặng im trong giây lát
Mà nghe gió cuộc đời dào dạt
Mà gặp tiếng trầm rơi của những hạt phù sa
***
Kìa biển xanh, biển xanh của ta
Chỉ giây lát thôi sẽ thành vĩnh viễn
Vĩnh viễn hiểu vì sao sóng vỗ
Sao mỗi ban mai, từ ngực biển, mặt trời...
(2000)

Wednesday, May 2, 2007

Thơ

Miền lặng
Sao không gọi thành tên?
Những gì là thương nhớ
Những gì vừa nảy nở
Còn âm ấm nơi tim
Có những điều lặng im
Dâng đầy trong khóe mắt
Mãi không nên lời nổi
Mãi rồi thành giá băng!
Một cõi nỗi niềm riêng
Nấc òa trong cõi lạnh
Khoảng vỡ nào im lặng
Nỗi đau chìm vào tim.
Một buổi chiều lặng thinh
Gõ về miền hoai cũ
Không một lời đồng vọng
Day dứt - niềm lặng câm!
(2000)

Tuesday, April 17, 2007

Tiếng Nghệ

Tiếng Nghệ
( Nguyễn Bùi Vợi)
Cái gầu thì bảo cái đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi
Chộ tức là thấy mình ơi
Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em
Thích chi thì bảo là sèm
Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào
Cá quả lại gọi cá tràu
Vo troốc là bảo gội đầu đấy em…
Nghe em giọng Bắc êm êm
Bà con hàng xóm đến xem chật nhà
Răng chưa sang nhởi nhà choa
o đã nhốt con ga trong truồng
Em cười bối rối mà thương
Thương em một lại trăm đường thương quê
Gió Lào thổi rạc bờ tre
Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn
Chắt từ đã sỏi đất cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em

(trích từ blog của TrungTS)
Nào, ai đang tính làm dâu, làm rể xứ Nghệ thì học thuộc lòng đi!

Wednesday, February 28, 2007

Entry for March 01, 2007

Tiểu luận!!!
Thôn quả phụ (Dư Thị Hoàn)
- Cho anh tiễn em đến gốc cây đa
- Thôi, xin cám ơn.

- Cho anh tiễn em tới chân cầu gỗ
- Thôi, em xin cám ơn lần nữa.

- Anh chỉ tiễn em đến ngôi chùa đổ
- Thôi mà, khi khác... em xin

- Thế thì, cho anh địa chỉ
- Kia kìa, đằng sau cơn mưa...
Đây sẽ là bài thơ nàng chọn làm tiểu luận. Hy vọng sẽ có nhiều ý tưởng hay ho và thú vị khi thực sự bắt tay vào viết. Cám ơn Nhóc đã giúp chị chọn bài thơ này!