Showing posts with label Truyện ngắn. Show all posts
Showing posts with label Truyện ngắn. Show all posts

Monday, May 18, 2015

Người ngủ chung


Cuối cùng, tôi đã nghĩ tốt nhất là nên nhấc đôi mí mắt nặng trĩu lười biếng lên sau một đêm rất dài nhắm im lìm cơ hồ như dính chặt vào nhau. Những hình sắc mờ nhoè biến ảo thành muôn vàn con đom đóm trên võng mạc khiến đầu óc tôi quay cuồng. Hai tròng mắt nhức nhối những lưu ảnh nhoè nhoẹt của cuộc rượu đêm qua. Cứ nhắm mắt thì không thể thoát khỏi những đốm sáng nhảy múa một cách khó chịu đó. Nghĩ vậy, tôi he hé mắt nhìn ra. Căn phòng trống trải, mờ mờ trắng. Chỉ có một luồng ánh sáng uể oải hắt qua khe rèm cửa không kéo kín. Chẳng gì tốt hơn một buổi sáng mùa đông ủ ê mây mù thế này cho đôi con mắt nặng chịch chỉ chực rớt xuống và một cái đầu đau như búa bổ. Ánh sáng se dịu sẽ xoá nhanh đi mọi ảo giác vướng vất trong võng mạc và trong đầu.
Tôi thở phào khi nhớ ra mình đang ở New York và cuộc kí kết đã xong xuôi. Nghĩ thế, cơn đau đầu và cảm giác nôn nao trong ngực bỗng nhiên thành ra một thứ khoái cảm khác thường. Cơn mệt mỏi của thể chất sáng hôm ấy chính là một bằng chứng hiển nhiên cho thành công bất ngờ của tôi hôm trước đó. Dĩ nhiên, nếu tôi đã không kí được cái hợp đồng béo bở vào hôm trước với đối tác ở New York thì không bao giờ có chuyện tôi uống say đến thế! Tính nhắm mắt thưởng thức thêm chút nữa cái khoái cảm đặc biệt của những dấu vết hoan lạc còn váng vất trên cơ thể, tôi bỗng thấy cái điện thoại rung bần bật trong túi quần. Vẫn cố bám lấy những hư ảnh múa may trong võng mạc bằng cách nhắm nghiền mắt, tôi mò mẫm tìm điện thoại.
“Kien, đêm qua thật đặc biệt. Em vui lắm! Anh còn ở New York bao lâu? Lúc nào cần một bạn ngủ chung, nghĩ đến em nhé! Jill.” Jill? Ờ nhỉ, cô ta biến đi đâu rồi nhỉ?
Jill là một cô gái mảnh dẻ, tóc nâu nhạt, luôn mặc sơ mi trắng và váy tối màu. Chẳng cần phải kể đến cái kính cận gọng bạc luôn thường trực trên mắt và những nốt tàn nhang lấm chấm hai bên gò má, bấy nhiêu thôi đã đủ tôi định nghĩa Jill là một cô thư kí mẫu mực và mẫn cán. Jill không phải là thư kí của tôi (vì tôi sẽ chẳng bao giờ tuyển một cô thư kí khiến tôi có cảm giác sẽ ngửi thấy mùi giấy tờ nếu đứng cạnh kiểu đó!). Tôi thích chơi khăm đối tác bằng cách lựa những bạn đồng hành gây ngạc nhiên. Ví dụ gã thư kí của tôi phải có tướng tá của một tay chơi thể thao, còn cậu kiến trúc sư đi cùng tôi trông bụi bặm như một nghệ sĩ đường phố. Các đối tác thường nhìn tôi - gã đàn ông gốc Á mắt một mí hay cười, lúc nào cũng ăn mặc chỉn chu đi cùng một đám bộ sậu trông không ăn nhập gì mấy bằng một cái nhìn khinh suất. Đó là tất cả những gì tôi cần, cho đến khi những thương vụ mua bán xong xuôi với phần lợi thế rõ rành rành nằm trong tay tôi.
            Suốt một tuần trời, tôi thường xuyên gặp Jill (cô thư kí luôn đứng khép nép sau lưng gã chủ béo phệ của công ty bất động sản đối tác ở New York) chỉ vì ước muốn điên rồ là có một công trình để đời ở thành phố đắt đỏ này bằng mọi giá. Tôi không để ý gì đến cô thư kí trông không có gì nổi bật ngoài cái vẻ đặc sệt giấy tờ hành chính ấy, cho đến buổi chiều tôi thoả nguyện ước mơ, mua lại được 1 toà nhà đổ nát ở quận Queens – nơi mà nhờ vào những vẽ vời tỉ mỉ của cậu kiến trúc sư, tôi đã hình dung ra mồn một cái toà nhà chọc trời tráng lệ như nó sẽ phải thế dưới tay tôi.
Chiều tối hôm đó, bộ sậu của tôi cùng với mấy người công ty đối tác – trong đó có Jill đi bar uống rượu mừng cuộc kí kết thành công. Lúc ở quán rượu, tôi thấy Jill biểu cảm và có một vẻ linh hoạt đặc biệt, khác hẳn vẻ mặt cứng đờ, nghiêm nghị tôi thường thấy trong văn phòng. Và điều đáng nói là cô nàng cứ quấn lấy tôi nói chuyện. Trong men rượu, tôi nhìn Jill nghĩ thầm: nếu cô em bỏ kính ra và chịu khó vén tóc cao lên thì trông cũng được lắm! Đôi mắt xanh biếc và đôi môi mỏng hơi hớt ở làn môi trên có vẻ gì đó rất ngây thơ, quyến rũ. Mà thực ra, tôi cũng không nhớ là mình  chỉ nghĩ như thế hay đã nói hẳn hoi ra với cô nàng. Chỉ biết là sau mấy cú đổi quán bar, khi đội hình tiệc tùng rơi rụng dần, tôi vẫn thấy Jill ríu rít ở cạnh tôi, cho tới tận khi tôi đã ở trong phòng khách sạn. Tôi không nhớ mình về khách sạn như thế nào, nhưng chắc là tôi đã buông lời tán tỉnh Jill trong lúc ngà ngà say, thế thì cô nàng mới lẽo đẽo theo tôi về tận phòng khách sạn chứ!
Liếc vội xuống người, tôi thấy mình vẫn đóng bộ sơ mi cài đủ cúc, quần tất chỉnh tề. Khỉ thật, thế tôi đã làm gì mà cô nàng lại bảo là vui nhỉ? Lại còn hẹn đến ngủ chung! Những hư ảnh còn lưu nơi võng mạc đã vỡ ra thành đom đóm cả, nên dù tôi có nhắm nghiền mắt để trí não lục lọi thì cũng chả thấy manh mối gì về đêm hôm trước bên cạnh Jill. Cô thư kí nhẽ ra tôi sẽ không bao giờ nghĩ đến bỗng nhiên lại làm tôi tò mò.
Còn một đêm nữa trước khi về lại bờ Tây, tôi quyết định nhắn cho Jill. Đúng 9 giờ tối, cô nàng xuất hiện ở cửa phòng khách sạn, không đeo kính và tóc búi cao. Jill đứng ở ngưỡng cửa nhìn tôi bẽn lẽn một lúc, khiến tôi sực nhớ ra mình đã truyền cảm hứng cho việc không đeo kính và vén tóc thật cao của cô gái. Tôi ôm nhẹ vai cô, bảo: trông em tuyệt lắm! Dường như chỉ chờ có thế, Jill bước vào phòng với cái vẻ nhanh nhẹn thường thấy ở văn phòng. Cô xin phép dùng phòng vệ sinh, và trước khi tôi kịp nghĩ ra câu tiếp theo sẽ nói, Jill đã bước ra với một bộ đồ ngủ rộng thùng thình, chỉ thiếu cái mũ nữa là tôi tưởng một bà cô già đang vào nhầm phòng tôi. Không để ý gì đến vẻ mặt băn khoăn của tôi, cô nàng cầm một cuốn sách, leo lên giường của tôi bật đèn ngủ. Tôi hỏi Jill – cố tình phô ra cái vẻ ngạc nhiên được cường điệu thêm bằng cử chỉ của đôi bàn tay khua lên trong không khí: Ủa? Sao em thay áo? Tôi tưởng chúng ta sẽ đi uống chút gì đã chứ? Jill nháy mắt cười: chẳng phải tối hôm nọ chúng ta đã uống đủ rồi sao, nào, lên đây với em! Hôm nay, em mang theo cuốn Rừng Nauy đấy!
Trước vẻ tự nhiên của Jill, tôi chỉ còn biết cười nín thinh. Cơn nghi hoặc buổi sáng hôm trước kéo về trong đầu tôi. Rừng Nauy thì liên quan gì đến việc tôi đang định làm tình với cô thư kí của đối tác? Chắc nhìn thấy vẻ mặt đần độn của tôi lúc đó, Jill đã đoán ra phần nào sự tình. Cô chạy đến bên tôi, dắt tay tôi ấn xuống giường, nũng nịu hỏi: Chẳng phải anh đã bảo với em rằng, anh cũng từng mê Haruki Murakami suốt cả thời tuổi trẻ sao? Tôi mỉm cười, vòng tay ôm lấy thân hình mảnh khảnh của Jill: ừ nhỉ, nhưng chuyện đó thì liên quan gì đến việc anh muốn em, cưng? Rồi không đợi cô trả lời, tôi thành thục cởi tuột chiếc váy ngủ trên người Jill.
Cô thư kí tóc nâu có cơ thể của một cô bé mới lớn hơn là của một phụ nữ trưởng thành gần 30 tuổi. Làn da trắng xanh nhợt nhạt lấm tấm tàn nhang, đôi vú nhỏ với núm vú đỏ hồng trông trinh bạch đến nỗi tôi sững sờ mất một vài giây mới dám chạm môi vào. Jill cười khúc khích trước những tấn công của tôi, tuyệt vọng van lơn tôi quay về với cuốn sách bằng những câu đứt quãng vì tiếng nấc: em tưởng, ôi, em đã tưởng là chúng ta sẽ đọc sách trước chứ… Ôi… Làm sao tôi lại cho phép cô nàng đòi hỏi gì khác khi đã ở trong tay tôi.
Tôi im lặng chứng minh sức mạnh bằng việc chế ngự cô dưới sự căng cứng của mình. Tôi chẳng phải đợi lâu để nhận lại sự hưởng ứng nhiệt tình của Jill, thậm chí, cô nàng dường như còn muốn làm chủ cuộc vui. Jill cuồng nhiệt đến mức khiến tôi kinh ngạc. Nghĩ đến cô thư kí không có nét gì nổi bật trong những bộ váy áo thẳng thớm thường thấy, tôi có thạo nghề gái gú đến mấy cũng không thể nào tưởng tượng nổi mình lại có thể đạt đến trạng thái hưng phấn khác thường như thế.  
Khi đi sâu vào Jill, tôi đồng thời nhìn sâu vào đáy mắt xanh biếc của cô. Nhìn chòng chọc không chớp mắt. Tôi có thói quen nhìn sâu vào mắt bạn tình để ước lượng mức độ khoái cảm tôi mang lại cho họ, thay vì dò đoán qua những tiếng rên rỉ hay la hét mà tôi cho là không đáng tin cậy lắm. Trong đáy mắt xanh biếc của Jill, tôi đã đọc thấy tia sáng của những xúc cảm cùng cực. Nỗi đau. Niềm vui. Nỗi tuyệt vọng. Sự bấn loạn, điên rồ. Những đòi hỏi cao độ. Những giấc mơ. Tất cả loé lên trong đôi mắt mở to của cô gái ấy ở cùng một khoảnh khắc. Những tia sáng ấy kích thích tôi hơn mọi mơn trớn khác. Tia sáng ấy loé lên, rồi vỡ tràn trong đôi mắt Jill. Chỉ trong một khoảnh khắc, tôi thấy mình bị lôi cuốn và nhấn chìm trong cơn quẫn bách của phức hợp những xúc cảm trong Jill. Và cũng chính ở khoảnh khắc đón nhận tia sáng loé lên trong mắt cô, tôi nhận ra cái hành động bản năng đơn thuần giữa chúng tôi thực ra có một kết nối tinh thần nào đó rất mạnh. Tôi chịu, không thể biết đó là cái gì. Nhưng quả thực nó rất mạnh. Chúng tôi vỡ ra trong nhau kiệt cùng sức lực.
Quá ám ảnh vì đôi mắt Jill, tôi không còn nhớ rõ cô đã kêu lên những gì trong cơn cùng quẫn của xác thịt và linh hồn. Chỉ biết, sau cuộc làm tình, tôi đã giật mình kêu lên: máu?! Em còn trinh ư? Jill cười ủ rũ khiến tôi cảm thấy vô cùng ái ngại. Anh xin lỗi, anh không biết… Dường như Jill cũng đâm ra ái ngại cho cái vẻ ái ngại của tôi, cô với mấy ngón tay thanh mảnh bịt môi tôi lại, ra dấu im lặng. Chúng tôi nằm bên nhau im lặng như thế, cho đến khi Jill lên tiếng. Cô bảo: em không phải là trinh nữ đâu. Em nghĩ em đã mất trinh từ hồi em đọc Rừng Nauy. Năm em 16 tuổi. Em đã yêu cái anh chàng Toru nhạy cảm ấy. Em đã làm tình với Toru, trong mơ…
Tôi quay sang nhìn Jill chằm chặp, buột miệng hỏi: Vì sao em đã chọn anh? Ý anh là em đã có thể làm thế này với một đàn ông nào đó từ lâu rồi mà. Jill cười, nét mặt hoạt bát hẳn lên, đôi mắt long lanh nhìn tôi: anh ngố thật, hay là anh chưa đọc Rừng Nauy? Anh không thấy là anh giống Toru à? À, mà có thể anh tưởng tượng về anh ấy khác cách em vẫn nghĩ. Đó, lí do là thế đó! Anh giống hệt Toru trong tưởng tượng của em. Em sinh ra và lớn lên ở New York, quen biết vô khối người Á Đông, kể cả người Nhật, nhưng chẳng có ai giống Toru như anh. Buồn cười nhỉ?
Tôi cười nhưng thực lòng hơi bực bội. Giờ thì tôi hiểu tại sao Jill đặt cuốn Rừng Nauy sẵn ở trên giường, trước cả khi chúng tôi tình tự với nhau. Tự nhiên, tôi muốn đọc lại Rừng Nauy, chỉ để xem tôi giống cái thằng cha Toru kia như thế nào. Phần còn lại của đêm hôm đó, trong khi Jill tí tách nói về những cuốn sách mới của Haruki Murakami, tôi nằm ngấu nghiến đọc Rừng Nauy – cuốn sách tôi từng say sưa hồi còn học đại học hai chục năm về trước.
Sáng hôm sau, Jill rời khỏi phòng khách sạn trước khi tôi thức dậy. Tôi lại có thêm một buổi sáng nghi hoặc nữa trong khi cứ tưởng là làm tình với cô nàng xong, tôi sẽ chả có nhu cầu biết gì thêm. Tiếng chuông điện thoại báo tin nhắn reo lên, và tôi biết chắc đó là Jill, cứ như thể tôi và cô nàng là tình nhân của nhau từ lâu lắm.
“Kien, đêm qua quá tuyệt! Cảm ơn anh. Anh về an toàn nhé! Bao giờ quay lại New York và cần một người ngủ cùng, hãy nghĩ tới em. À, anh nhớ đeo nhẫn cưới vào nhé! Và nhớ là đừng bao giờ cởi ra tuỳ tiện thế! Jill.”
Khỉ thật, cô nàng nghĩ mình là ai mà lại còn lên giọng nhắc nhở tôi. Ảo tưởng! Tôi xua mọi ý nghĩ về Jill để sửa soạn ra về, tự nhủ tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại cô nữa đâu, cô bạn ngủ chung một đêm ạ. Dù cô để lại tin nhắn mời mọc, dù rằng, sau vụ kí kết thành công, trong vòng một năm, tôi sẽ đi New York liên tục. Tôi sẽ quay về tổ ấm của tôi ở Bờ Tây, và xem như cuộc tình một đêm kì lạ với Jill là một thứ quà khuyến mại cho những gì tôi đã làm được trước đó.
Tôi đã nghĩ như thế cho đến lần tiếp theo quay lại New York. Chẳng hiểu ma xui quỷ khiến gì mà tôi lại quyết định cầm theo mấy cuốn sách của Haruki Murakami để đọc trên máy bay. Cũng không hiểu những cuốn sách của nhà văn người Nhật đó gợi nhắc đến cuộc làm tình kì lạ với Jill hay là nó khiến tôi quên bẵng đi ý nghĩ quả quyết không bao giờ gặp cô nữa. Tôi lại gọi cho Jill, vào một đêm rảnh rỗi. Cô đến, mang theo sách. Chúng tôi làm tình. Và cũng như lần trước, tôi chỉ nhớ được ánh mắt của Jill, không gì khác.
Cứ thế, thành lệ, mỗi lần tôi đi New York là một lần gặp Jill. Jill không bao giờ nói yêu tôi, cũng không đòi hỏi tôi phải nói yêu cô. Nhưng tôi vẫn luôn luôn cảm thấy một sợi dây kết nối tinh thần, một mối ràng buộc tâm cảm nào đó đang diễn ra giữa tôi và cô, mạnh nhất là khi tôi nhìn vào đáy mắt cô trên đỉnh hoan lạc trong những cuộc làm tình. Suốt một năm trời, Jill đóng vai một người bạn ngủ chung với tôi, chia sẻ những ý nghĩ điên rồ thầm kín nhất với tôi. Tôi chẳng dại gì để lộ mình quá nhiều, nhưng một vài lúc bột phát, tôi đã kể cho Jill nghe về Hà Nội, về những giấc mơ thơ ấu của tôi, trước khi tôi đến Mỹ tìm chân trời mới.
Mỗi sáng trước khi ra khỏi phòng tôi, Jill luôn dọn dẹp sạch sẽ. Tôi không bao giờ tìm thấy bất kì dấu vết nào của cô trong phòng sau khi cô đã rời đi. Kể cả một cọng tóc trên gối cũng không. Ngay đến vết lõm trên chiếc gối cô nằm cũng được vuốt phẳng. Một lần, tôi phàn nàn rằng, thay vì mất thời giờ vào những việc dành cho người dọn phòng khách sạn, tốt nhất là cô đến đây làm tình với tôi lượt nữa trước khi về. Jill nhìn tôi cười bí ẩn: Kien, rồi một ngày, anh sẽ cảm ơn vì em đã không để lại dấu vết gì trong đời anh. Tin em đi!
Và cái ngày như thế cũng đến thật. Vào đúng cái buổi sáng Jill làm một việc khác thông lệ - để lại trên bàn viết của tôi một lá thư với nét chữ nghiêm ngắn như chữ của bất kì cô thư kí mẫu mực nào.
“Kien,
Đêm qua em mơ thấy anh. Kì không? Mơ thấy anh khi đang ở trong vòng tay anh. Em mơ thấy mình đi tìm anh giữa một đám đông huyên náo trong một ngôi nhà rất rộng. Đoán xem, ngôi nhà đó ở đâu? San Francisco!!! Em nhớ em đã sửng sốt cả trong mơ khi thấy mình đang ở nhà anh, trong bữa tiệc của anh, giữa bạn bè khách khứa của anh. Lúc đó, em chỉ có 1 ý muốn là tìm gặp anh để nói chúc mừng sinh nhật. Em chen chân giữa mọi người, luôn thấy anh phía trước, cách em chừng vài ba bước chân nhưng không cách gì giáp mặt. Em thấy anh nháy mắt cười với em. Nhưng em đã mệt rồi.
Em nghĩ là mình nên ra về, nhưng rồi lại thấy chân mình cuốn theo đám đông, kéo vào phòng ngủ của anh xem quà tặng bất ngờ của vợ anh. Nhìn thấy cái giường với bộ ga gối thêu cầu kì quà vợ anh mới tặng, em thôi luôn ý nghĩ ít ra nên cười chào anh 1 cái trước khi về. Chân em thoái lui chầm chậm ra cửa. Rồi em chạy một mạch khỏi ngôi nhà và bữa tiệc của anh, trong đầu chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để bắt được taxi. Nhưng ra khỏi vùng sáng của ngôi nhà, em mới nhận ra là em đã quên túi xách ở nhà anh.  Em quay lại nhưng bị lạc. Em tìm mãi không thấy cây cầu dài em đã chạy qua lúc ra khỏi nhà anh. Những lối đi trở nên quanh co, lầy lội, ngóc ngách, y như những con ngõ dài thăm thẳm giữa mùa mưa ở Hà Nội anh đã kể với em. Giữa lúc em đã kiệt sức tìm kiếm, bỗng nhiên có một cậu trai trẻ xuất hiện, nói với em: Tôi biết chị muốn tìm gì, đi với tôi. Giấc mơ của em kết thúc lửng lơ thế đấy! Em nên đi tìm cái kết cho nó chăng?
-Jill-
Từ hôm đó, tôi bặt tin Jill. Cô đổi số phone, chuyển việc và không bao giờ trả lời email của tôi, kể cả một cái email tôi đề tên: tôi yêu em với một dãy chấm cảm dài dằng dặc, chắc mẩm thể nào cô cũng động lòng. Đã hai năm, toà nhà mơ ước của tôi đã xây xong. Mỗi lần có dịp quay lại New York, tôi vẫn gửi những tin nhắn vào không khí, vẫn thuê phòng ở khách sạn quen trong khu China Town, hi vọng có lúc sẽ tình cờ gặp lại Jill. Tôi chẳng có manh mối nào về cô ngoài tên mấy cuốn sách của Haruki Murakami và mẩu thư kể về giấc mơ của cô. Giá như, tôi đã để ý, cuốn sách cuối cùng tôi thấy trong túi xách của cô, vào đêm hôm đó. Biết đâu...

Thursday, December 4, 2014

Ra đi

                                                                        (Tặng anh Ch.)
Không có gì tuyệt hơn khi được bắt đầu những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết mới trên đồi cỏ lộng gió bên bến du thuyền Berkeley vào một ngày hè. Tôi thích đặt bút viết những dòng chữ mới trên trang giấy trắng tinh trong cái khoái cảm dịu dàng được mang đến bởi những ngọn cỏ úa vàng dưới cơn nắng chói cọ vào chân, những cơn gió ẩm ướt sung sức tạt ngang má mát lạnh. Mùa hè Berkeley luôn quyến hoặc tôi bởi sự trộn lẫn độc đáo của cái nắng bỏng da và những cơn gió lạnh se thổi vào từ bờ Vịnh. Đó là lí do mà vào những mùa hè có ý định khởi thảo một cuốn sách mới, tôi luôn chọn đến ở Berkeley chừng 3 tháng, chỉ để ra ngồi đồng ở cái công viên ngay bên cạnh bến du thuyền này và viết. Dù đã có lí do hẳn hoi song mỗi lần quay lại Berkeley, tôi vẫn không khỏi băn khoăn và cố gắng tìm thêm lời biện giải nào khác cho việc trở đi trở lại đúng một địa danh của mọi sự khởi đầu viết lách quan trọng. Thực tình, đó là điều gần như không thể lí giải nổi với tôi - một gã đã quen sống lang bạt kì hồ suốt nửa đời người, luôn luôn tìm kiếm niềm vui và cảm hứng trong những hành trình ngẫu hứng chưa bao giờ kết thúc. Ngay cả thành phố Florence xinh đẹp quê hương tôi cũng không thể níu giữ đôi chân cuồng đi và trái tim khát mới của tôi.
Lần đầu tiên tôi đi xa là chuyến hành trình đến Mỹ từ 25 năm trước với ý định tìm lại người cha chưa một lần biết mặt của tôi (hay nói đúng hơn là người tình thất lạc của mẹ tôi). Hơn 40 năm trước, mẹ tôi - một cô tiểu thư con nhà quyền quý đi du lịch bằng tàu biển cùng cha mẹ đến thành phố San Francisco rồi nằng nặc đòi ở lại đây vì muốn được hoà vào đám đông hippie trẻ tuổi say sưa trong âm nhạc và những vũ điệu tự do ở quận Haight-Ashbury. Rồi bà hiến dâng tình yêu si mê đầu đời cho một gã hippie người Texas - xứ sở của những chàng cao bồi. Khi biết mẹ tôi mang trong mình giọt máu cao bồi, gã đàn ông của bà đã dứt áo ra đi, không đợi mẹ tôi kịp tận hưởng ý nghĩ sung sướng về việc được làm mẹ và chút khoái cảm còn vương vất sau một đêm làm tình mệt nhoài với người yêu. Thế mà bà không hề hận cha tôi. Mỗi lần nhắc đến ông, bà luôn bảo rằng bà hiểu sự ra đi của ông và chấp nhận rằng, người đàn ông của bà tôn thờ tự do, hiến dâng đời mình cho tự do. Năm đó, mẹ tôi 18 tuổi. Bà sinh tôi ra ở ngay giữa trung tâm của những người hippie và đặt tên tôi là Francisco. 2 năm sau, ông bà nội tôi cương quyết kéo mẹ tôi về Ý để tiện chăm sóc tôi và để mẹ tôi quay trở lại trường học. Bà ở vậy nuôi tôi và vẫn luôn kể về người đàn ông tự do của bà cho tôi nghe vào những ngày mùa hè rực nắng - những ngày dễ gợi nhắc đến Summer of Love xa xưa trong tuổi trẻ của bà. Tôi nhớ dáng mẹ tôi ngồi bên hàng hiên, trong chiếc váy hoa thắt eo, mắt sáng bừng long lanh theo từng lời hát bà lẩm nhẩm suốt ngày, đến độ tôi đã thuộc lòng từ tuổi bé thơ:
For those who come to San Francisco
Summertime will be a love-in there
In the streets of San Francisco
Gentle people with flowers in their hair[1]
Năm 18 tuổi, khi tôi ngỏ ý sang Mỹ tìm cha, mẹ tôi thảng thốt nhìn đứa con trai gầy gò nhưng có đôi mắt sáng và cái xương hàm vuông vắn hệt người đàn ông cao bồi của bà, rồi cười buồn nói với tôi: đã đến lúc rồi, con cứ đi đi. Cứ như thể bà đã biết trước rằng, đến một ngày, tôi sẽ rời xa bà và bắt đầu cuộc đời lang bạt. Bà đoán không sai, từ cái ôm tạm biệt với mẹ tôi năm 18 tuổi, tôi đã bắt đầu những chuyến lang thang vô định của đời tôi. Và tôi bắt đầu viết.
***
Tôi thường chọn ngồi bên sườn đồi, hướng nhìn ra phía Vịnh San Francisco, xa xa là cây cầu Cổng Vàng ẩn hiện trong mây. Thay vì ngồi trong những quán café thơm tho, tiện nghi, tôi chọn ngồi viết ở công viên, trong nắng gió, trong tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim ríu rít và tiếng trẻ con nô đùa. Ở đó, tôi thấy tôi tự do và không bị ai làm phiền (dù là những sự làm phiền hết mực tử tế, ví như cậu bồi bàn hỏi tôi có cần thêm café không?). Thay vì viết bằng máy tính, tôi chọn lối viết lách cũ kĩ thô sơ bằng bút mực và giấy trắng. Sau nhiều năm lang thang, tôi nghiệm ra rằng, càng giản tiện, càng tự do. Với một cuốn sổ dày và vài ba cây bút, tôi có thể ngồi lì ở công viên từ sáng sớm đến chiều muộn mà không phải lo máy tính hết điện, không sợ lũ chim xấu chơi bay qua ị cho một bãi ngay giữa bàn phím. Rõ ràng, với bút và giấy, tôi tự do hơn những người gõ bàn phím nhan nhản quanh tôi. Và cũng với bút và giấy, tôi được hưởng thụ đặc quyền quay trở lại với những ý nghĩ từng bị gạch xoá trong quá khứ. Không ít lần, tôi quay ngược lại những dòng chữ bị dập xoá thê thảm trong một cơn bí bức ngôn từ và cảm hứng nào đó để rồi bắt lại được mạch viết, nuôi dưỡng được một cành nhánh mới cho câu chuyện dang dở. Đấy là chưa kể đến cảm giác tuyệt diệu khi thấy những cảm xúc của mình được vật chất hoá tức thì qua cái miết chặt của những ngón tay vào cây bút.
Thường thì một khi đã bắt đầu, tôi ít khi ngưng viết cho đến khi tay mỏi nhừ vì tì miết quá mạnh. Viết suốt nửa đời người mà tôi vẫn không nhớ được một kinh nghiệm sơ đẳng rằng càng lên gân, tôi càng viết chậm và càng trở nên cuống quýt sợ hãi những ý nghĩ sẽ rời bỏ tôi trước khi tôi bắt kịp chúng. Thực tế là khi bắt đầu một cơn hứng khởi, tôi hầu như quên tiệt mọi bài học và kinh nghiệm. Tôi lại nguyên sơ như giấy, lại ngốc nghếch mắm môi mắm lợi dồn hết sức lực vào bàn tay phải để giải thoát nguồn cảm hứng đang cuồn cuộn trong lòng, quên béng rằng cứ lên gân như thế độ dăm phút là những ngón tay tôi trở nên tê cứng. Trong một lần dừng viết bởi một cơn tê tay như thế, tôi ngước mắt nhìn lên và thấy nàng. Tôi chạm phải ánh mắt nàng và ngay lập tức, nàng nở một nụ cười đáp trả. Nàng có khuôn mặt trẻ thơ và nụ cười bừng sáng, giống hệt như nụ cười của cô bé con đi bên cạnh nàng. Hình như cô bé con tò mò chỉ trỏ người đàn ông ngồi viết một mình bên cái bàn bé xíu kì quặc khi họ bước ngang qua tôi và nàng đang cố lôi kéo cô con gái ngây ngô đi sang hướng khác. Nụ cười hàm ý thông cảm của nàng đáng yêu đến nỗi tôi cứ ngây ra nhìn cho đến khi hai mẹ con họ đi xa dần.
Những ngày sau đó, tôi bắt đầu để ý hơn đến xung quanh trong những lần dừng bút vì tê mỏi. Và hầu như ngày nào, tôi cũng thấy hai mẹ con nàng vào đầu giờ chiều. Chắc là họ vẫn thường đến đây nhưng tôi chưa bao giờ để ý. Nàng hay mặc những chiếc quần lụa thẫm màu có vẽ hoặc thêu hoa văn lạ mắt cùng những chiếc áo thun bó, để lộ cái eo thon nhỏ và vòng hông nở gợi cảm. Cô con gái chừng 3,4 tuổi hay thắt bím tóc hai bên, trông lí lắc đáng yêu khi đi bên mẹ. Mẹ con nàng thường đi dạo dưới chân đồi và thi thoảng, cô con gái nghịch ngợm bất thình lình trèo ngược lên đồi để nàng mướt mải đuổi theo, cười váng động trong nắng chiều. Ngồi ở sườn đồi mỗi ngày, tôi đã nhiều bận ngắm hai mẹ con họ say sưa đến buông rơi cả bút. Nhân một hôm nản lòng vì gạch xoá quá nhiều, tôi quyết định vứt bút giấy qua một bên, đứng dậy bắt chuyện với mẹ con nàng. Đang ngồi ăn vặt với con gái, nàng ngước nhìn tôi vẫn với nụ cười rạng rỡ như đã sẵn sàng cho cuộc làm quen này từ lâu lắm: Chào anh! Anh không viết nữa à? Tôi lắc đầu, than thở rằng hôm nay là ngày quái quỷ gì mà tôi chỉ ngồi gạch xoá chứ không viết nổi chữ nào. Nàng cười an ủi: gạch xoá cũng là việc cần làm mà. Không biết cách vào chuyện tự nhiên hay đôi mắt lúc nào cũng lấp loá nắng và đôi môi cong luôn chực sẵn nụ cười của nàng khiến tôi bị thu hút. Tôi say sưa tán chuyện trên trời dưới biển với nàng mất một lúc mới nhớ ra chưa hỏi tên.
-       Xin lỗi, chị tên gì nhỉ?
-       Liên. Còn anh?
-       Lyann?
- Không, Liên, trong tiếng Việt nghĩa là hoa sen. Chắc là hơi khó cho anh nhỉ, anh cứ gọi tôi là Lyann cũng được. Cái tên cũng đâu quan trọng gì, phải không?
- Ừ, chị nói cũng phải, nhưng tôi sẽ nhớ tên chị nghĩa là hoa sen. Rất đẹp và rất hợp với chị!
Nàng lại cười, mái tóc đen nhánh xoã ngang lưng tuôn trong gió như một mảnh lụa mềm.
         Sau buổi hôm đó, ngày nào tôi cũng tự cho phép mình dành riêng vài ba chục phút chuyện gẫu với Liên. Nàng lớn lên ở Sài Gòn, trong một gia đình nghèo đông con, cha mẹ gây gổ đánh lộn suốt ngày chỉ vì chuyện tiền bạc. Một lần giúp người quen đứng bán hàng lưu niệm trên đường Đồng Khởi vào dịp nghỉ hè, nàng tình cờ gặp một chàng trai người Mỹ vừa tốt nghiệp đại học sang Việt Nam du lịch. Anh chàng người Mỹ mê say cô gái Việt Nam nhỏ bé có nước da nâu giòn đến độ quyết cưới cô làm vợ chỉ sau vài tháng quen biết. Nàng nhận lời cầu hôn chóng vánh của gã trai tóc vàng mắt xanh trong men say tình đầu choáng váng và nỗi khát khao được trốn chạy khỏi ngôi nhà xiêu vẹo bởi dấu ấn những cơn bạo hành của cha mẹ. Năm đó, Liên 18 tuổi. Anh ấy là người đàn ông đầu tiên và duy nhất của tôi. Một người đàn ông hoàn hảo. Liên kể về chồng với một vẻ biết ơn nhẫn nại. Chồng nàng làm nghề kiến trúc sư và rất có tài, theo như lời Liên kể. Sau khi đưa cô vợ da vàng mũi tẹt tuổi mới lớn lơ ngơ sang Mỹ, chồng Liên giúp nàng học cao đẳng ngành kinh tế mà nàng đã chọn bừa trong lúc chưa xác định được mình muốn gì. Tốt nghiệp rồi, Liên mới nhận ra là nàng không thích ngành kinh tế. Trong lúc phân vân về nghề nghiệp, nàng có bầu và lãnh nhận thiên chức làm mẹ tự nhiên, tạm quên đi việc phải tìm một công việc gì đó cho chính mình. Gần 10 năm ở Mỹ, thế giới của Liên hầu như chỉ gói gọn trong hai chữ gia đình. Nàng ở nhà chăm sóc con cái và làm một cô vợ ngoan, tận hưởng những yêu chiều của anh chồng giỏi giang nhưng bận rộn.
Nếu không gặp anh ấy, chắc giờ này tôi đang đứng bán hàng ở một tiệm tạp hoá nào đó ở Việt Nam, như mẹ tôi và các chị tôi. Liên ngậm ngùi nói, mắt nhìn bâng quơ về phía những gợn sóng lấp loá dưới nắng ngoài vịnh. Rồi đột nhiên, nàng hất mớ tóc qua bên vai, ngoảnh sang nhìn tôi, cười: Anh ấy là ông Bụt của đời tôi. Một ông Bụt yêu say đắm cô gái nghèo mà ông ấy đã giúp. Tôi chăm chắm nhìn đôi môi cong vừa mấp máy nói vừa nhếch lên cười của nàng, toan thốt lên: Dĩ nhiên là ông Bụt ấy phải yêu em rồi! Một người đẹp như em, không ai muốn bỏ qua, kể cả Bụt! Rồi tôi bị cái nhìn chiếu tướng của Liên làm cho bối rối, bèn nuốt vội ý nghĩ bằng một cái đằng hắng vu vơ.
- Vì sao anh chạy trốn? Một lần, Liên hỏi tôi khi nghe tôi kể chuyện tôi đã sang Mỹ như thế nào.
- Tôi đâu có chạy trốn? Tôi phản ứng. Tôi đã ra đi, bắt đầu từ một sự kiếm tìm đấy chứ!
- Nhưng anh đã không tìm thấy ông ấy, đúng không? Hoặc là anh chưa từng thực sự tìm kiếm? Liên vẫn vặn vẹo. Nàng thông minh đến mức nhiều lúc khiến tôi không kịp xử trí. Tôi ừ hữ trong cơn kinh ngạc ngấm ngầm về câu hỏi bén ngọt của nàng, rồi cố tình lái câu chuyện sang hướng khác: Thực ra, bây giờ, tôi đi là để viết…
- Viết cũng là một cách trốn chạy đấy thôi, anh không nghĩ thế sao?
Lần này, tôi chọn cách im lặng. Tôi không muốn chấp nhận sự thật rằng tôi đang trốn chạy, dù trong thâm tâm, tôi biết nàng đã đúng. Tôi đi tìm cha ư? Không, tôi chỉ đang cố gắng trốn chạy khỏi những ý nghĩ về người cha mà mẹ tôi vẽ nên cho tôi. Tôi đi tìm kiếm cảm hứng ư? Không, tôi chỉ đang trốn chạy những điều cũ kĩ đang lan dần trong từng huyết mạch của tôi, trốn chạy những buông xuôi mỏi mệt của tâm hồn đang già nua đi không cách nào cứu vãn nổi mà thôi. Tôi đang đi tìm kiếm tự do ư? Không, tôi chỉ đang trốn chạy những ràng buộc đời thường bằng những chuyến đi vô định. Những ý nghĩ sắc nhọn của nàng đâm tôi trọng thương. Làm sao một người đàn bà trẻ lại có thể hiểu tôi đến thế, chỉ qua những câu chuyện bâng quơ ở công viên sau vài tháng trời quen biết?
***
Ba tháng hè ở Berkeley đã trôi qua trong niềm kinh ngạc và hưng phấn tột độ của tôi, bởi tôi nhận ra tôi đã bồn chồn buông bút chờ Liên vào đầu giờ chiều hàng ngày. Những câu chuyện phiếm với nàng đẩy tôi đến những đỉnh cao hứng khởi và tôi đã viết say sưa dưới nắng chiều, sau mỗi mấy chục phút nghỉ giải lao nói chuyện với nàng. Dĩ nhiên, Liên không hề hay biết, nàng đã khiến cuốn sách của tôi có những trang viết trác tuyệt nhường nào cũng như nàng không bao giờ biết tôi đã mơ thấy nàng hằng đêm ra sao.
Một hôm, vào những ngày cuối cùng còn lại ở Berkeley của tôi, nàng rụt rè đề nghị tôi được đọc vài trang bản thảo của cuốn tiểu thuyết tôi đang viết dở. Tôi cười, bảo rằng đó là việc chưa từng có trong tiền lệ, trong lòng nảy ra một nỗi ngờ vực: chẳng nhẽ, nàng thông minh đến độ đoán được rằng, trong cuốn tiểu thuyết mới của tôi có bóng dáng nàng chăng? Có thể lắm! Như đoán ra ý tôi, nàng phân bua: Từ lâu, tôi chỉ muốn đọc một cái gì mới ráo mực và còn trong vòng bí mật. Tình cờ được đánh bạn với một nhà văn, tôi đã nghĩ biết đâu tôi có cơ hội thoả nguyện ước mong! Mà này, chúng ta là bạn, phải không? Tôi mỉm cười: ừ, là bạn. Và tôi sẽ phá lệ cho chị đọc vài trang ngay tại đây, ngay bây giờ. Nàng reo lên thích thú như một đứa trẻ, rồi trong khi tôi nói chuyện với cô con gái nhỏ của nàng, nàng chăm chú đọc. Thi thoảng liếc sang, tôi thấy sắc mặt nàng đổi thay lạ lùng. Cái vẻ hạnh phúc mãn nguyện tràn trề tôi vẫn thấy bỗng dưng biến mất, thay vào đó là một nỗi gì đau đáu, phảng phất chút buồn bã, tiếc nuối… Hình như, tôi đã cho nàng đọc đúng những trang viết về sự đi. Khi Liên ngẩng mặt lên khỏi mấy trang giấy, tôi thoáng thấy một giọt nước mắt trên khoé mi nàng. Liên im lặng nhìn ra phía cây cầu Cổng Vàng rồi nói với tôi mà như thể đang nói với gió: Rất đẹp! Rất thúc giục… Rồi nàng làm điệu bộ hất tóc qua vai quen thuộc trước khi quay sang tôi, nở nụ cười sáng rỡ quen thuộc, hỏi: Ngày kia anh sẽ đi phải không, Francisco? Tôi gật, đầu vẫn u u nghĩ về giọt nước mắt của nàng.
Ngày hôm sau, tôi đến công viên ngồi nhưng không viết gì, dù giấy bút vẫn bày ra trước mặt. Tôi quá sốt ruột chờ đợi Liên nên không thể cầm nổi bút. Rồi nàng đến, đúng 1:30’ chiều như lệ thường, không sớm hơn, không trễ hơn một phút. Hôm đó, nàng mặc một chiếc váy lụa xanh thẫm màu lá cây dài chấm gót và một cái áo thun dài tay màu trắng. Màu váy áo của nàng làm tôi nghĩ đến những đoá sen trắng xanh tôi vẫn hay mơ thấy. Nàng ùa đến chào tôi, rồi nói trong hơi thở gấp, vẻ hồi hộp: Anh đây rồi, tôi chỉ tranh thủ chạy ra chào tạm biệt vì hôm nay tôi phải về sớm đưa con đi tiêm phòng. Không đợi tôi trả lời, nàng giúi vào tay tôi một cái hộp nhỏ, thắt nơ hồng: Quà cho anh. Hãy đọc nhé! Đây là những gì tôi tự viết cho mình sau những đêm mộng mị triền miên. Cũng là những thứ bí mật chưa ai từng được đọc. Tôi mấp máy nói cảm ơn và không cưỡng được ôm chầm lấy nàng. Khi cảm thấy thân thể mảnh mai của nàng trong vòng tay cũng là lúc một thứ cảm xúc mãnh liệt cuộn lên trong lồng ngực tôi và ý nghĩ phải quay lại Berkeley kéo đến trong đầu, tôi nói với Liên: Tôi sẽ quay lại. Mùa hè chưa hết, vẫn chưa hết, phải không? Nàng thầm thì qua vai: Phải rồi, còn mùa hè Ấn Độ nữa…
Tôi sẽ về Ý thăm mẹ tôi chừng một tháng, rồi tôi sẽ quay lại, tận hưởng nốt mùa hè rớt ở Berkeley. Chị sẽ vẫn đi công viên giờ này chứ? Tôi sẽ gặp lại chị phải không? Tôi nói nhanh, tránh nhìn vào mắt Liên vì sợ sẽ bị cái nhìn như chiếu tướng của nàng làm bối rối đến độ phải nuốt ngược những điều muốn nói vào trong. Làm ra vẻ không để ý lắm đến trạng thái xúc động khác thường của tôi, Liên nắm tay tôi, mím môi cười tạm biệt: Chúc anh may mắn với cuốn sách mới. Đi được mấy bước, nàng ngoái lại nhìn tôi rồi nói: Tôi nghĩ, tôi cũng muốn làm một người viết như anh. Nụ cười rạng rỡ của nàng tan trong nắng chiều.
***
Tôi không ngờ rằng, đó là lần cuối cùng tôi gặp Liên. Nàng đã không đếm xỉa gì đến cái hẹn quay trở lại của tôi. Mà lẽ ra, tôi phải đoán ra điều đó chứ, lẽ ra tôi phải biết khi đọc những dòng nàng đã viết và chia sẻ với tôi trong cái hộp nhỏ nàng tặng tôi chiều hôm đó:
Có những ban mai, tôi thức dậy bằng ánh sáng của hoài nghi - thứ ánh sáng rùng rợn giết chết mọi tế bào yêu sống. Tôi thấy mình nằm đó, trong cái miệng đen ngòm của con quái vật mang tên Tuyệt Vọng. Nó đã ngoạm lấy tôi như thế nào và từ bao giờ, tôi không hay. Có lẽ nó đã chọn nuốt chửng tôi ngay trong giấc ngủ - khi tôi yếu đuối nhất và cô đơn nhất, giữa những giấc mơ phập phồng âu lo, giữa những hoài cảm hoang mang của biết bao lần dấn thân từ ngày mới lớn, giữa mê man những cơn đau tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức bỗng thức dậy nhức nhối thịt da. Nó đã ngoạm lấy tôi giữa bóng tối lặng im - khi tôi nhắm mắt trút bỏ mọi xiêm y, trang sức để trần truồng trong từng ý nghĩ.
Có những ngày, những ý nghĩ đẹp đẽ về tình yêu và hạnh phúc bỏ mặc tôi hoàn toàn cho cái miệng tối âm u của Tuyệt Vọng. Tôi thấy tôi nằm đó, không chút sức lực kháng cự, bởi manh giáp tự vệ tôi cũng đã cởi bỏ mất rồi. Tôi đau đớn nhận ra hạnh phúc sợ hãi trốn trong chiếc áo giáp tôi vẫn mặc hàng ngày, và nó rời bỏ tôi khi tôi trút bỏ manh giáp ấy trước khi chìm sâu vào cơn ngủ. Hoá ra, hạnh phúc thuộc về tấm áo giáp tôi hằng mang chứ không thuộc về tôi. Hoá ra, tôi vẫn là tôi - trơ trọi buồn sầu nguyên thuỷ.
Có những ngày, tôi thức dậy, ngờ vực cả mặt trời.
Nàng đã viết như thế và cho tôi đọc, thế mà tôi không hiểu ra. Ngu ngốc làm sao! Lẽ ra, tôi không nên tặc lưỡi bỏ qua những giấc mơ khiến tôi ngộp thở nhiều đêm ở Florence - những giấc mơ dày đặc những đoá sen trắng xanh và tóc, và mắt, và môi nàng. Lẽ ra, tôi không nên gạt bỏ ý nghĩ đã từng thiêu đốt tôi mỗi sáng sớm thức dậy ở Florence, rằng phải quay lại Berkeley ngay lập tức. Lẽ ra, tôi phải biết, nàng sẽ làm như thế ngay từ buổi chiều chào tạm biệt ấy, khi nàng nói rằng nàng cũng muốn làm một người viết như tôi. Bao nhiêu dấu hiệu, bao nhiêu ám chỉ, thế mà tôi ngớ ngẩn không nhận ra. Cái thằng tôi ngu ngốc chỉ nhận ra nàng không còn ở đó nữa khi đã quay lại công viên bến du thuyền Berkeley sau ba tuần trời ruột gan như lửa đốt ở quê nhà. Suốt một tuần đến công viên ngồi đằng đẵng đợi mà không thấy bóng nàng đâu, tôi vẫn tự nhủ rằng chắc nàng đi nghỉ, vả lại, tôi đã hẹn nàng quay lại sau 1 tháng, chứ không phải 3 tuần. Tôi đành tự khuây khoả mình bằng việc đọc những gì nàng viết. Nhưng càng đọc, tôi càng thấy lo sợ. Cho đến buổi sáng đầu tiên sau 1 tháng trời xa cách, khi ăn một cú đấm thôi sơn vào mặt, tôi mới hoảng hốt nhận ra điều tôi lo sợ đã biến thành sự thật. Nàng đã bỏ đi.
         Sáng hôm đó, đang ngồi trầm ngâm nhìn ra Vịnh, tôi giật mình nghe tiếng hỏi giật giọng: Anh là Francisco phải không? Vừa mới ngước nhìn lên và trả lời: à, vâng theo quán tính, chưa kịp định thần thì tôi đã thấy mình bị túm cổ áo quăng sang một bên. Rồi tôi lãnh trọn một cú đấm như trời giáng vào mặt.
         Vợ tôi đâu? Liên đâu? Gã đàn ông tóc vàng, mắt xanh cao lớn, điển trai gầm gừ hỏi tôi. Nghe đến tên nàng, tôi bật dậy, quên cả cơn đau buốt bên mang tai vì cú đấm, hỏi dồn: Cô ấy đâu? Anh là chồng của cô ấy phải không? Cô ấy bỏ đi ư? Đang hùng hổ, nghe thấy tôi hỏi dồn với một vẻ ngơ ngác tuyệt đối, gã đàn ông bỗng oà lên nức nở: Anh là ai? Sao cô ấy lại bảo tôi đến gặp anh để biết lí do cô ấy ra đi? Tôi sững người. Trời ơi, hoá ra, nàng phó thác gánh nặng này cho tôi bằng món quà chia tay. Nàng bắt tôi đọc những gì nàng viết để giải thích với chồng nàng về những ẩn dụ, những ám chỉ đầy ẩn ức trong những giấc mơ của nàng. Tôi giận dữ nghĩ đến nàng, nghĩ đến cái ý tưởng quay lại Berkeley chỉ vì nàng của tôi. Sao mà tôi ngu ngốc thế?
          Mất một lúc, tôi mới bình tĩnh lại để ngồi xuống bên cạnh anh chồng tội nghiệp của nàng, cố gắng giải thích thật rành rẽ những gì nàng đã viết. Có vẻ như anh ta không hiểu gì, vẫn luôn miệng hỏi: Tôi đã làm gì sai? Tôi rất yêu cô ấy. Tôi chỉ muốn bao bọc, che chở cô ấy, muốn cô ấy được hạnh phúc. Sao cô ấy lại rời bỏ tôi, rời bỏ mái ấm gia đình? Xem chừng mọi lí giải đều vô nghĩa trước nỗi đau, tôi thở dài nói với anh ta: Đối với cô ấy, hạnh phúc cũng chỉ là một thứ ràng buộc. Có bao giờ anh nghĩ rằng, cô ấy cảm thấy ngột ngạt trong chính cái hạnh phúc nhỏ nhoi của mình không? Liên từng bảo tôi rằng, anh là ông Bụt của cô ấy. Có lẽ, giờ là lúc cô ấy muốn bước ra khỏi thế giới cổ tích, để tự đương đầu, tự khám phá. Hãy cho cô ấy thời gian, rồi cô ấy sẽ quay về…
         Rồi cô ấy sẽ quay về… - tôi ái ngại nói với chồng Liên, ngập ngừng bỏ lửng vế câu tiếp theo. Tôi nuốt vội cái ý nghĩ rằng Liên sẽ quay về khi nàng đã leo lên cái đỉnh cô đơn chất ngất của tự do vì những âm thanh phản kháng vọng lại từ chính trái tim tôi. Hơn 40 chục năm hầu như cô độc trên cõi đời này, tôi vẫn chưa bao giờ có ý nghĩ quay về, thế thì tại sao tôi dám trao cái hi vọng hão huyền đó cho chồng nàng. Giờ thì tôi hiểu, vì sao Liên đã biết rằng cả đời tôi là một cuộc trốn chạy. Thì ra, vì nàng cũng đã ấp ủ giấc mơ chạy trốn như tôi. Thì ra, nàng cũng là cái giống cuồng tự do như tôi.
***
Giờ này, không biết Liên đang ở chân trời góc bể nào. Chắc nàng không hay biết rằng, sự ra đi của nàng đã neo tôi lại Berkeley. Tôi quyết định ở lại, ngày ngày vẫn ra ngồi ở bến du thuyền để viết. Và chờ nàng. Giờ thì tôi bắt đầu tin, số mệnh đã khiến tôi chọn Berkeley làm nơi quay trở lại. Vì nàng đã ở đó chờ tôi từ trước khi quen biết tôi, để tiếp sức cho giấc mơ tự do huyễn hoặc của đời tôi, khi tôi đã bắt đầu mỏi gối chồn chân lê bước khắp thế gian. Nàng đang ở đâu đó, bước thay tôi những bước chân độc hành tự do tuyệt đối.
                                                Nguyễn Thị Thanh Lưu, 3/12/2014




[1] Bài hát San Francisco (Be sure to wear flowers in your hair) được viết bởi John Phillips và hát bởi Scott McKenzie năm 1967

Saturday, August 9, 2014

Bức ảnh

Nghệ thuật luôn có chỗ trên những nóc đỉnh cảm xúc, dù đó là hạnh phúc hay nỗi đau.
***
         Đó là bức ảnh bán khoả thân của một phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, được chụp theo trào lưu “tự sướng” trong không gian chật chội của một phòng tắm nhỏ, lổn nhổn khăn khố đủ màu, rất đặc trưng cho kiểu nhà tắm nhõn vài mét vuông nhưng kiêm đủ chức năng phòng vệ sinh chung cho cả gia đình ở các đô thị lớn của Việt Nam. Qua làn nước mờ dội từ vòi hoa sen xuống đúng ngang phần cổ của người đàn bà trong bức ảnh, Nhan thấy rõ nét mặt đê mê của chị ta khi tự chụp mình trong tư thế riêng tư ấy. Trên khuôn mặt vuông chữ điền đang hơi ngửa ra phía sau, đôi mắt lim dim liếc ngang về phía camera, khuôn miệng rộng hé mở cùng với mớ tóc xoã xượi được buộc túm cẩu thả của chị khiến Nhan thậm chí có thể hình dung được điều gì đang diễn ra ở phần thân dưới của chị, nơi cú máy cắt ngang không thể hiện. Làn nước chảy thành dòng xuống đôi núm vú tím sẫm đang cương lên trên hai bầu vú đã trễ xuống vì tuổi tác của người đàn bà trong bức hình khiến Nhan cảm thấy nhột nhạt và ớn lạnh. Bức ảnh người đàn bà bán khoả thân đã dễ dàng đẩy Nhan đến vùng giới hạn cảm giác riêng tư, thứ cảm giác mà Nhan chỉ thích thưởng thức cùng với anh - người đàn ông cô yêu nửa năm ròng trong bí mật. Nhan nghẹn ngào khi chạm phải cảm giác mơn trớn gợi dục ấy từ người đàn bà xa lạ trong bức hình. Và cô cay đắng nhận ra rằng, những thiêng liêng thần thánh của thứ ái tình cô thêu dệt nên với anh chỉ là điều huyễn tưởng. Cặp môi mỏng hé mở của chị ta như đang cười nhạo Nhan, cơ thể loã lồ của chị ta đã thô bạo xâm chiếm cõi cảm giác riêng tư mà Nhan đã ấp iu cùng anh. Nhan rã rời, vứt cái điện thoại cùng hình ảnh người đàn bà khoả thân xa lạ xuống nền nhà, mặc tiếng chuông điện thoại đổ dồn và màn hình nhấp nháy tên anh. Mấy phút trước đó, không hiểu ma xui quỷ khiến gì mà anh lỡ tay gửi bức hình ấy cho Nhan.
         Từ hôm nhận được bức ảnh, Nhan đóng cửa ngồi lì trong căn hộ trên tầng áp mái của một chung cư nhỏ ở ngoại ô New York, bất chấp rằng việc đi ra đường, lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm là đời sống của cô, nghề nghiệp và đam mê của cô - một nhiếp ảnh gia mới vào nghề. Cô ngồi trân trân hàng giờ đồng hồ, chỉ để nhìn vào bức ảnh người đàn bà bán khoả thân xa lạ. Giờ thì cô biết, đó là một trong số những tình nhân của anh. Câu chuyện tình lãng mạn của hai người xa xứ cô đơn ở hai bờ Tây - Đông nước Mỹ mà Nhan tưởng lầm mình là nhân vật chính bỗng nhiên biến thành một bi hài kịch với một nhân vật lẽ ra không có vai bỗng nhảy xổ bất thình lình ra sân khấu không báo trước. Và Nhan ngậm ngùi nhận ra, trong vở bi hài kịch ấy, cô không còn là nhân vật chính nữa. Người đàn bà khoả thân trong bức ảnh với những biểu cảm mạnh mẽ trong tư thế riêng tư và kiêu hãnh bởi hành động “tự sướng” kia mới là nhân vật chính. Nhan tắt điện thoại, từ chối nghe mọi lời giải thích từ anh, chỉ để ngồi nhìn chằm chằm vào nhân vật chính bất ngờ nhảy xổ vào câu chuyện tình của cô.
Nét mặt vừa đê mê trong cơn khoái cảm, vừa kiêu hãnh tự ngắm mình trong chiếc điện thoại để chớp lấy một bức hình “tự sướng” của chị bóp nghẹt tim Nhan, vì cô biết tất cả những biểu cảm riêng tư của người đàn bà trong bức ảnh chỉ nhắm đến một người, dành riêng cho một người - chính là người đàn ông Nhan đã tưởng đâu là của riêng mình. Nhan bật khóc tức tưởi, mắt vẫn không rời bức ảnh, như thể cô đang muốn đọ sức với ánh mắt liếc ngang của người đàn bà xa lạ. Ánh nhìn ấy vừa khoan sâu vào tâm can Nhan bao nỗi chua xót, bẽ bàng vừa như có ma thuật khiến cô không thể cưỡng lại được. Cứ thế, Nhan ngồi bất động nhìn chằm chặp vào đôi mắt lim dim của người đàn bà ấy như bị thôi miên, cảm thấy toàn thân bị đóng đinh buốt nhức. Ngồi chăm chắm nguyên một tư thế ấy cho đến khi kiệt sức, Nhan đổ gục xuống bàn nức nở.
Khóc cạn nước mắt, Nhan lại dấn thân vào cuộc hành xác cô độc của riêng mình. Giờ thì cô hiểu ra, gặm nhấm đau thương cũng là một cái thú, có thể đem đến niềm thống khoái tột cùng. Nhan đặt bức ảnh người đàn bà khoả thân trước mặt, buộc đôi mắt mệt mỏi phải nhìn thẳng vào đó như một sự thử thách với cảm xúc và tinh thần của chính mình. Nhan nhìn sâu vào mắt chị ta bằng một cái nhìn kiên nghị đương đầu. Và cô bắt đầu thấy tội nghiệp cho chị ta. Khi người đàn bà ấy phơi bày da thịt mình ra trước camera một cách đầy hãnh diện, chắc chị ta không nghĩ gì đến những cơ thịt đã lỏng lẻo không mấy hấp dẫn của chính mình. Khi chị ta lim dim mắt mơ màng trong cơn say tình ái, chắc chị ta không tưởng tượng được rằng, người tình trong mộng của chị đang ấp ôm mộng tưởng với một cô tình nhân trẻ trung nóng bỏng khác. Khi chị ta gửi bức hình riêng tư với cả trời yêu đương mặn nồng này cho người tình, chắc chị ta không bao giờ có thể hình dung được, nó lại lọt đến tay người khác. Xót xa thay cho người đàn bà ấy. Xót xa thay cho Nhan. Bức ảnh người đàn bà khoả thân trong phòng tắm đã đẩy Nhan vào một vùng tăm tối lầy lội của biết bao nhiêu cảm xúc hỗn mang. Cảm xúc nào rồi cũng thành vết cứa thương đau trong tâm hồn cô. Nhan bê bết tuyệt vọng trong cuộc đối đầu với người đàn bà khoả thân xa lạ ấy. Cô tự hành xác suốt ngày này qua ngày khác bằng việc ngồi bất động dán mắt vào bức ảnh nhiều giờ đồng hồ liên tục. Chiếc máy ảnh - vật bất li thân của Nhan đã bị thế thân bởi chiếc điện thoại, trong đó có bức ảnh của người đàn bà khoả thân.
***
 Đó là một người đàn bà đẹp, nói chính xác ra thì chắc đã từng rất đẹp. Những dấu vết thời gian trên khuôn mặt đã mất đi vẻ thanh thoát và trên cơ thể bắt đầu xổ ra của một phụ nữ ngoại tứ tuần vẫn không làm tàn phai nổi nhan sắc của chị. Dường như, cái tư thế đặc biệt riêng tư và những biểu cảm nhục dục trên gương mặt người đàn bà ấy càng khiến chị có một vẻ cuốn hút đặc biệt. Nhìn đôi vai và cái cổ lớn vâm váp của chị, Nhan hình dung rằng, chị là một người cao lớn. Vệt da nâu do ăn nắng hình chữ V quanh cổ của chị khiến Nhan tưởng tượng rằng, chị ta hay mặc áo cổ Đức, cởi hai khuy áo đầu tiên. Sau những cơn choáng váng đầu tiên, Nhan cố gắng tự trấn tĩnh mình bằng cách ngắm bức ảnh người đàn bà bán khoả thân xa lạ như ngắm một tác phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh. Cô vận dụng hết mọi kĩ năng nhiếp ảnh chuyên nghiệp đã học được để lái trí óc mình vào một hướng khác, an toàn hơn cho cảm xúc của chính cô. Nhan bám víu vào những kiến thức về bố cục, ánh sáng, màu sắc, bối cảnh, chiều sâu... trong nghệ thuật nhiếp ảnh để ngắm bức hình, và càng ngắm, cô càng thấy nó đẹp.
Không gian phòng tắm hẹp và màu sắc sặc sỡ của mấy chiếc khăn cùng quần áo phía sau lưng người đàn bà tạo nên một cảm giác ấm cúng rất đời thường. Cánh cửa hẹp sơn trắng với tấm kính mờ vân hoa của phòng tắm bị cắt ngang vì góc máy hẹp có vẻ khiến cho bố cục bức hình trở nên lộn xộn. Phía góc phải tấm ảnh, một phần bồn rửa mặt nhô ra chiếm lấy diện tích chật chội của khuôn hình. Giữa tất cả những lổn nhổn đồ đạc, trong cái không gian chật hẹp mà bức ảnh mô tả, nổi bật lên hình ảnh người đàn bà trần truồng đang giơ cánh tay phải tự chụp hình mình dưới làn nước của vòi hoa sen. Có chị, bố cục bức ảnh trở nên hoàn hảo. Người đàn bà ấy kết nối và thổi hồn vào những vật dụng đời thường trong bức ảnh, khiến chúng không còn lộn xộn vô thức mà trở thành một cái phông rất sống động cho hình ảnh của chị. Không gian chật hẹp của phòng tắm với sự chen chúc của đủ loại đồ đạc cũng trở nên rộng mở khác thường bởi tinh thần tự do và tư thế kiêu hãnh của người đàn bà.
Bỏ qua thực tế rằng cơ thể đã bắt đầu xồ xề, làn da và khuôn mặt đã lộ rõ vẻ mệt mỏi của thời gian, bầu vú cũng đã trễ tràng vì tuổi tác, người đàn bà trong bức ảnh với cái cổ hất cao, mái tóc ướt nhẹp buộc túm sơ sài hơi ngửa về phía sau, nét mặt say sưa chìm đắm trong những biểu cảm riêng tư của chị toát lộ một niềm hãnh diện hồn nhiên khôn tả. Chị đang yêu và chị đang vô cùng hạnh phúc và mãn nguyện với tình yêu ấy. Trong tinh thần đó, người đàn bà khoả thân xa lạ đã giải phóng không gian của bức hình một cách ngoạn mục.
Nhan tự hỏi: vì sao một bức hình “tự sướng” được chụp một cách cẩu thả trong một không gian cẩu thả, với một cái camera tạm bợ lại có thể hoàn hảo đến vậy? Tại sao sau bao nhiêu ngày tháng cầm máy ảnh chuyên nghiệp, với ti tỉ kiến thức về nhiếp ảnh trong đầu, Nhan chưa bao giờ chụp được một bức ảnh có hồn đến thế? Có lẽ nào vì cô chưa bao giờ đạt đến được cái tinh thần tự do tuyệt đối như người đàn bà ấy? Thứ tự do bất chấp thời gian, tuổi tác, khoảng cách, thứ tự do chắc chỉ những người biết yêu thực sự mới có được. Lẽ nào, Nhan chưa thực sự biết yêu?
Trước khi dấn thân vào cuộc tình điên rồ lãng mạn với anh - người ở cách xa cô sáu giờ bay và 3 múi giờ khác biệt, Nhan đã từng yêu vài ba người. Tình yêu nào cũng đẹp và hoàn hảo ngay cả khi kết thúc. Nhưng cho đến khi biết anh và buông mình vào tình yêu nồng cháy của anh, Nhan mới biết đến một sự thật rằng, hoá ra sự không hoàn hảo lại dễ dàng dẫn con người ta đi đến tận cùng cảm giác yêu đương hơn cả sự hoàn hảo. Nhan chưa từng gặp anh - đó là điều không hoàn hảo mà trước đây Nhan không bao giờ chấp nhận khi bước vào chuyện ái tình. Nhưng anh thú vị và nồng nàn đến nỗi chỉ nói chuyện qua điện thoại với anh thôi cũng đủ khiến Nhan không cưỡng lại được việc phá bỏ những quy tắc hoàn hảo cô tự đặt ra cho mình. Nhan đã yêu anh bằng những nỗi lo sợ mơ hồ, bằng những chống chếnh của một kẻ chỉ biết sống bằng những quy tắc mà giờ lại bị rơi vào vùng bất quy tắc. Thứ men say ái tình chuếnh choáng mà anh trao cho cô dường như cũng chẳng thể nào khiến Nhan bứt hoàn toàn ra khỏi những ràng buộc lễ nghi, phép tắc mà cô đã được răn dạy từ bé. Có lẽ, anh đã thất vọng vì thứ ái tình rón rén ngại ngùng của Nhan. Có lẽ, vì thế, anh cần người đàn bà ấy - một người yêu anh hết mình, liều quên tuổi tác, giới hạn, thời gian...
Nhan đã hoàn toàn bị khuất phục trước bức ảnh người đàn bà khoả thân xa lạ ấy. Cô biết, cô sẽ chẳng bao giờ đạt đến được cái thứ tinh thần tự do tuyệt đối của chị ta vì những mắc mớ của hàng trăm quy tắc cô đã tự đặt ra cho mình ngay từ thuở mới lớn, dưới sự trui rèn nghiêm khắc của gia đình. Cô đau đớn nghĩ đến những ngày tháng yêu đương nồng nhiệt với anh, với những xúc động mà cô nghĩ đã giúp cô thăng hoa trong những bức hình lứa đôi cô chọn chụp ngẫu nhiên trên đường phố. Hoá ra, cô đã lầm. Tình yêu của cô chẳng lớn lao như cô tưởng, và tình yêu của anh dành cho cô hoá ra cũng chỉ là một thứ tình chia chác của một gã đàn ông tham lam. Một lần nữa, Nhan lại đổ gục xuống bàn thổn thức, bên ngọn đèn chong suốt đêm. Mặt trời đang lên ngoài kia, gọi dậy những náo động đời thường. Nhưng trong căn hộ bé nhỏ của Nhan, phiền muộn và tuyệt vọng phủ lấp cô trong thứ bóng tối quánh đặc đáng sợ mà không tia sáng mặt trời nào xua tan nổi.
Những nỗ lực vượt thoát khỏi những cảm xúc riêng tư của Nhan dường như vô hiệu, vì khi cô đi đến tận cùng của mọi phân tích đánh giá về nghệ thuật nhiếp ảnh, cô lại đụng độ phải một sự thật hiển nhiên, rằng: người đàn bà trong bức hình ấy là một người đáng yêu và biết yêu. Chính tình yêu hồn nhiên của chị đã biến một bức ảnh “tự sướng” thành một tác phẩm nghệ thuật mà ngay cả một nhiếp ảnh gia như Nhan cũng thèm thuồng mơ ước. Chị ta mới là nghệ sĩ đích thật. Còn Nhan, bất kể đã mòn gót lang thang khắp nơi chí chốn chỉ để chụp ảnh, bất kể đã dụng công ngắm nghía từng góc máy và đặt bao nhiêu ý đồ vào từng bức hình, hoá ra, cô chỉ là một người tưởng nhầm mình là nghệ sĩ.
Trước niềm hạnh phúc được hiến dâng lộ rõ ngời ngời trên nét mặt người đàn bà trong bức ảnh, Nhan - người mà anh đã từng bao lần gọi một cách tôn thờ là “nữ hoàng trong mộng” lại hoá ra chỉ là một kẻ đáng thương chưa biết thế nào là niềm hạnh phúc dâng hiến. Cô đã yêu anh bằng một thứ ái tình kẻ cả - thứ ái tình của một người nắn nót lo âu. Ngay cả tình yêu mãnh liệt và hoang dại của anh cũng không đủ sức phá tan cái thành quách ngờ vực kiên cố Nhan tự xây nên quanh mình. Giờ thì Nhan hiểu rõ, vì sao anh lại cần có thêm người đàn bà ấy, ngoài Nhan. Giờ thì Nhan hiểu rõ, vì sao cô đã đổ bao nhiêu tâm huyết vào tất cả mọi bức ảnh, đã căn cơ từng góc máy mà vẫn chưa thể có được một tuyệt phẩm nào. Cô đã yêu và sống với đam mê của mình như một nữ tu chứ không phải như một người nghệ sĩ thực thụ. Những vỡ lẽ đắng cay ấy khiến Nhan ngã gục hoàn toàn, sau một tuần trời đương đầu với bức ảnh người đàn bà khoả thân xa lạ.
***
Một sáng tháng bảy oi ả, khu ngoại ô yên tĩnh cách thành phố New York chừng 20 phút đi tàu bỗng náo động khác thường. Rất nhiều xe cảnh sát vây quanh lấy khu căn hộ chung cư nằm cuối đường Curtis. Cư dân trong làng thấy cảnh sát phá cửa một căn hộ sát tầng áp mái, nơi cư trú của một cô gái trẻ dễ mến người Á Châu, vẫn tự xưng là nghệ sĩ nhiếp ảnh tự do. Họ kháo nhau rằng, khi phá khoá căn phòng, chiếc radio nhỏ bên cạnh giường ngủ của cô gái trẻ ấy đang văng vẳng bài hát “If you go away” với giọng hát trầm buồn của Patricia Kaas. Hình như, chiếc radio đã tua đi tua lại bài hát ấy hàng chục nghìn lần cho đến khi người ta tìm thấy nó và xác cô gái trẻ. Cô treo cổ tự vẫn trong phòng tắm. Cảnh sát kinh ngạc nhìn thấy xung quanh xác cô la liệt những bức hình bán khoả thân của chính cô gái, được chụp theo kiểu “tự sướng” bằng điện thoại. Hàng trăm bức hình được chụp cùng một tư thế, thoạt nhìn thì cứ tưởng là bản in hàng loạt của cùng một bức, nhưng nhìn kĩ lại thấy có vô số biểu cảm khác nhau trên nét mặt cô gái. Sau khi đã lục tung toàn bộ căn hộ của cô gái, cảnh sát ghi chú vào hồ sơ: không tìm thấy chiếc điện thoại chụp ảnh tự sướng.
***
Một năm sau, trong buổi triển lãm các tác phẩm nhiếp ảnh mang tên Nhan, do gia đình và bạn bè cô tổ chức để tưởng nhớ đến cô, series ảnh selfie của nữ nhiếp ảnh gia quá cố đã được công bố, gây choáng váng cho công chúng Mỹ. Trong những bức hình ấy, cô gái trẻ tự chụp mình trong tư thế đầu hơi ngửa về phía sau, mắt liếc ngang đau đáu nhìn về phía màn hình điện thoại phía bên tay phải, môi hé mở. Làn nước từ vòi hoa sen tia đúng phần hõm cổ, chạy thành dòng xuống hai bầu vú thanh tân. Sau lưng cô chẳng có gì ngoài bức tường gắn đá men trắng toát lạnh lẽo. Giới nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã coi series ấy là một tuyệt tác bởi những biểu cảm tinh tế và thứ cảm xúc cùng cực trong từng bức hình. Trong đôi mắt của nữ nhiếp ảnh gia quá cố xinh đẹp, họ nhìn ra một nỗ lực tuyệt vọng, một khát khao tuyệt vọng, một tình yêu tuyệt vọng. Họ tiếc thương cho một tài năng chỉ phát tiết ngay trước cái chết của mình.

Không ai khác ngoài người đàn ông sống cô độc ở một thành phố nhỏ bên bờ Tây nước Mỹ biết rằng, chủ nhân thực sự, người nghệ sĩ thực sự đã lên ý tưởng cho series ấy là người đàn bà đã hiến dâng tình yêu tuyệt đối cho anh ta trong suốt 5 năm trời, để rồi bị anh ta phản bội vì một cô gái trẻ. Bức ảnh ấy - tác phẩm nghệ thuật hàm chứa bi kịch ấy đã bị phi tang cùng với mối tình vụng trộm của anh ta. Nhan nghiễm nhiên trở thành chủ thể sáng tạo.