Showing posts with label Nhật kí. Show all posts
Showing posts with label Nhật kí. Show all posts

Tuesday, June 2, 2015

Berkeley của tôi

Mùa xuân tới, tôi sẽ rời Berkeley... Và tôi đã bắt đầu nhớ Berkeley từ những ngày đầu thu lá đổi màu day dứt, tôi đã hoài thương Berkeley như hoài thương một cố nhân ngay trong những giây phút mặn nồng yêu đương giữa lòng thành phố quyến hoặc, dịu dàng bên bờ vịnh San Francisco này.  Bằng những dự cảm xao xác của một tình yêu quá độ, tôi đã thấy tôi ở mùa xuân sau đang ngoái đầu ngoảnh lại luyến nhớ Berkeley - thành phố đã giữ cho tôi 3 năm trời kỉ niệm về những tháng ngày đầu tiên trên xứ sở cờ hoa.
Tôi sẽ nhớ những ngày đầu tiên bỡ ngỡ trong thành phố mới, vác bụng bầu nhấp nhổm nằm trong khách sạn cùng con gái chờ chồng chạy khắp nơi lo ổn định nhà cửa. Nhớ nỗi ngao ngán chán chường khi lần đầu tiên bước chân vào cái nhà sẽ ở, thấy trống hoác trống huơ chưa có tí đồ đạc gì. Nhớ những buổi bế bụng lang thang mệt nhoài mà hạnh phúc tự tay chọn mua từng món đồ nội thất. Nhớ niềm vui ấm áp trong căn bếp nhỏ, khi được nấu bữa cơm đầu tiên bằng nồi chảo mới tinh. Nhớ bao nỗi niềm ngổn ngang chưa kịp xếp thu gọn gàng vì những bận rộn của đời sống mới.
Tôi sẽ nhớ lắm căn nhà hai phòng ngủ bé xíu và một mảnh vườn con con có giá thuê cắt cổ ở thành phố đắt đỏ Berkeley – nơi tôi đã đón đứa con thứ hai sau hai tháng đặt chân lên đất Mỹ, nơi đầy ắp tiếng khóc cười thơ trẻ, nơi mỗi ngóc ngách đều hiện diện tình yêu gia đình. Tôi sẽ nhớ những buồn vui giận hờn chồng vợ, những tủi khổ với quê xa, những đêm rất dài nằm mộng thấy khu vườn cũ...
Có một lần, anh bạn Việt kiều sống ở San Francisco nghe tôi giới thiệu mình sống ở Berkeley đã thốt lên: ở đó thì chán chết! Tôi cười im, không nói năng gì, chỉ nghĩ thầm: tiếc cho anh đã không có cơ hội được Berkeley chào đón.
Tôi sẽ không quên cú điện thoại (vào một đêm đang lang thang ngắm nghía đồ ăn Á Đông ở chợ 99) mời đi dự tiệc Tết từ chị Nguyệt Cầm. Đó là cú điện thoại đầu tiên tôi nhận được từ một người bạn Việt Nam ở Berkeley – một người bạn ấm áp mà càng ở lâu tôi càng muốn gần, càng biết nhiều càng yêu quý. Tôi cũng chẳng quên mùi vị món gà kho gừng chị nấu gửi cho tôi những ngày tôi ở cữ. Rồi phở, bún... thi thoảng cũng được chị gói ghém gửi đến tận nhà, để một đứa mới xa nhà vừa ăn vừa rưng rưng vui. Với tôi, chị là định nghĩa đẹp đẽ đầu tiên về Berkeley.
Tôi thường nói đùa với mọi người, tôi sẽ sẵn sàng đi bất kì đâu trên nước Mỹ không nao núng, miễn là tôi biết rằng, ở đó, sẽ có một căn bếp như căn bếp của chị Nguyệt Cầm đang đón đợi. Căn bếp cứ dăm bữa nửa tháng lại rộn ràng xào nấu những món ăn Việt Nam, lại ấm tiếng cười trêu của bạn bầu quen thương khắp vùng Bay area đổ về tụ họp. Tôi sẽ nhớ những đêm trăng sáng đàn hát vang lừng trên đồi Berkeley, nhớ cảm giác thơ thới dưới sương khuya sau một cuộc hát thâu đêm, nhớ chếnh choáng thơm men rượu mận mấy chị em uống một lúc cả chai mà đố ai say nổi. Những hạnh ngộ vui tươi ở Berkeley, tôi sẽ giữ bên mình suốt hành trình sắp tới, bởi tôi vẫn tâm niệm ai là bạn mình, sẽ là bạn đời bạn kiếp, dẫu không được ở gần nhau.
Những ngày này là những ngày dằng dặc nhớ thương Berkeley, nên tôi tự cho phép mình nhẩn nha thêm một chút trên những con phố quen, thơ thẩn tìm đến vài ba cửa tiệm ưa thích chỉ để tán gẫu với mấy người bán hàng như những người bạn tôi sắp xa. Tôi kiếm cớ tụ bạ mấy cô bạn đồng cảnh ngộ lấy chồng xa, mấy người bạn tha phương đến từ những đất nước tôi chỉ biết đến trên bản đồ, chỉ để giữ lại thật nhiều yêu mến. Những người bạn ấy là một phần Berkeley trong tôi – phần yêu dấu nhất, sâu đậm nhất.
Nơi tôi sẽ đến, liệu có chút nào giống Berkeley phóng khoáng, cởi mở mà vẫn hiền hoà, tự nhiên – thành phố của giao thoa và những chuyển tiếp văn hoá bên bờ vịnh xinh đẹp Bắc Cali? Liệu những người tôi sẽ gặp trên những con đường mới ở thành phố lạ sắp tới có sẵn lòng tặng tôi một nụ cười không toan tính? Liệu ở nơi chốn tương lai ấy, người ta có đón nhận một cô gái da vàng như cách Berkeley đã nồng hậu đón nhận tôi? Dẫu vẫn đang sống những ngày gom kí ức còn lại ở Berkeley, tôi đã bắt đầu tự hỏi mình về nơi chốn mới, những câu hỏi khó tránh khỏi các trạng từ so sánh, mà trong đó, Berkeley vẫn là cái vế câu trĩu nặng...

Tôi biết mình chưa có câu trả lời về tương lai, nhưng tôi cũng biết tôi đã sẵn có câu trả lời cho tâm thế ở tương lai. Tôi sẽ mang theo tình yêu Berkeley, mang theo tất cả những bài học vỡ lòng thấm thía đầu tiên về xứ sở cờ hoa tôi đã học ở thành phố này để chào Berkeley đi đến vùng đất mới. Tôi sẽ mỉm cười với những người tôi gặp trên phố, như một người Berkeley thực thụ. Nếu ai đó có hỏi gia đình tôi đến từ đâu, tôi sẽ trả lời: chúng tôi đến từ Berkeley. Berkeley của tôi!!!
(Khởi viết Mùa thu 2014 - đầu hè 2015)
Ảnh: Căn bếp của chị Nguyệt Cầm

Tuesday, January 13, 2015

Số phận một chiếc ly

Đó là một chiếc ly không lấy gì làm đặc biệt, ngoài đôi ba vân hoa giản dị khắc trên thành ly – những vết khắc mà tôi chỉ nhớ bằng xúc giác vì hầu như không để mắt đến chúng, trong lần nâng ly đầu tiên. Tôi đã tình cờ cầm chiếc ly ấy trong tay trong bữa cơm tối sum họp cuối năm với bố mẹ chồng giữa một đêm mưa tầm tã ở ngoại ô New York.
Tối hôm đó, bố chồng tôi trịnh trọng mở một chai champange để mừng gia đình đoàn viên và mừng mọi thành viên trong nhà đã hoàn thành được nhiều việc lớn. Sau những giây phút nói cười rộn rã, ông trầm ngâm nâng ly rượu lên ngắm nghía, rồi thủ thỉ kể chuyện lịch sử gia đình. Chiếc ly là một chứng nhân cho lịch sử ấy.
Nó là một chiếc ly pha lê hình phễu nhỏ nằm trong bộ ly sáu chiếc và hầu như không có nét gì nổi bật so những ly tách sang trọng khác trong nhà. Nhưng đó lại là bộ ly được bố mẹ chồng tôi nâng niu trân quý nhất. Chiếc ly ấy cùng nhiều đồ gia dụng khác đã theo chân ông bà nội của chồng tôi lênh đênh trên tàu biển trong suốt một hải trình dài di cư từ Đức sang Mỹ cách đây gần 77 năm.
Chiếc ly ấy cùng những đồ gia dụng khác lẽ ra đã không phải di chuyển đi đâu cả, nếu ông bà nội của chồng tôi không đi nghỉ ở Hà Lan vào mùa xuân năm 1938. Ông nội là một bác sĩ giỏi ở Đức, lúc đó có một gia đình nhỏ với vợ và hai con trai. Trước khi đi nghỉ ở Hà Lan, ông chưa từng nghĩ đến việc đi ra khỏi nước Đức – nơi tổ tiên người Do Thái của ông đã chọn dừng định cư sau rất nhiều lần lang bạt di cư khắp Châu Âu.  Mùa xuân năm đó, ông bà nội đưa hai con trai đi nghỉ ở Hà Lan và kinh ngạc nhận ra tình hình tồi tệ ở nước Đức lúc bấy giờ khi đọc báo chí Hà Lan. Rất nhiều khi, người ta chỉ có thể nhận ra thực tế đáng sợ xung quanh khi đã thoát ra khỏi cái lồng yên ổn vẫn sống hàng ngày. Dù kì nghỉ đã không hoàn thành được nhiệm vụ hàng đầu là giúp cả nhà nghỉ ngơi nhưng nó lại là sự kiện thúc đẩy một quyết định sống còn cho cả gia đình. Ông nội lập tức ra quyết định rời khỏi nước Đức càng sớm càng tốt, trước khi cả gia đình bị nghiền nát trong cỗ cối xay Holocaust của quân Phát xít.
Mùa thu năm 1938, chiếc ly tôi cầm trong tay giữa đêm mưa New York ấy đã cùng với ông bà nội rời khỏi Đức, trong một hành trình cố tình kéo dài qua Thuỵ Sỹ, Pháp rồi mới đến Anh xuất cảng đi Boston. Theo luật di cư thời đó ở Đức, những người di cư không được phép mang quá 10 đô la tiền mặt một người mỗi ngày trong hành trình đến vùng đất mới. Đó là lí do mà ông bà nội đã phải tìm cách kéo dài hành trình với cung đường dài nhất bằng việc ghé thăm tất cả họ hàng ở Châu Âu trước khi thực sự đến Anh để lên tàu đi Mỹ. Cũng theo luật di cư, họ được phép mang các đồ đạc gia dụng đi theo, bởi vậy sau khi quay trở về từ kì nghỉ ở Hà Lan, ông bà nội tất bật lên danh sách những món đồ sẽ mang theo chuyến di cư để những người quản lí việc di cư ở Đức thời đó kiểm tra trước khi chấp thuận. Chiếc ly nhỏ đã may mắn nằm trong danh sách ấy và sang Mỹ trót lọt cùng với những giường, tủ, bàn làm việc, nồi niêu xoong chảo, bát đĩa...
 Lênh đênh trên biển suốt mấy tuần, cuối cùng, cả gia đình đã cập bến Boston an toàn cùng tất cả đồ đạc và một khoản tiền mặt không nhiều nhặn gì. Chiếc ly mỏng manh tôi cầm trên tay may sao cũng đến Mỹ lành nguyên không sứt mẻ. Bắt đầu một cuộc sống mới với cả một gia đình phải lo toan, ông nội chọn cách vừa đi học để lấy lại bằng bác sĩ ở Mỹ, vừa kiếm việc lao động chân tay ở một bệnh viện nhỏ trong vùng để nuôi gia đình. Có lẽ, chiếc ly nhỏ cùng những đồ đạc thân quen đã vượt đại dương trong hành trình di cư của gia đình mùa thu năm đó đã phần nào mang lại chút cảm giác thân thuộc, ấm áp cho những người phải đột ngột quyết định rời khỏi mảnh đất gắn bó để sống tiếp ở một nơi xa lạ. Ít nhất, bà nội vẫn sẽ nấu cơm bằng những nồi niêu bà từng dùng ở Đức, dù những bữa cơm trong những ngày tháng đầu tiên trên đất Mỹ có thể đạm bạc hơn thuở ở quê nhà. Ông nội vẫn có thể nhấm nháp chút rượu vang bằng chiếc ly quen trong những ngày đông lạnh giá để hồi tưởng đến những ngày sung túc chưa xa trước cuộc di cư, để gắng gầy dựng lại sự nghiệp trên đất mới.
Tôi thảng thốt ngắm lại chiếc ly nhỏ trong tay khi nghĩ về những trải nghiệm thời gian và không gian của nó, kinh ngạc thấy những vân hoa vẫn sắc nét bất chấp thời gian, bất chấp những va chạm và cầm nắm từng trải qua trong quãng sống bằng cả một kiếp người. Chiếc ly nhỏ bỗng sáng bừng ánh sáng kỉ niệm và kí ức. Tôi không dám hình dung điều gì đã xảy ra nếu chiếc ly này không có mặt ở đây - trên tay tôi, nếu nó đã ở lại nước Đức một thời nằm trong tay quân Phát xít. Có lẽ ông nội của chồng tôi cũng đã từng có những từ khước hình dung như tôi, khi quyết định bỏ lại toàn bộ nhà cửa đất đai sản nghiệp để ra đi, đến một chân trời lạ.
Nhìn sâu xuống đáy ly hình chóp, tôi tự hỏi: bao nhiêu mùi rượu đã đi qua? Bao nhiêu tay cầm, bao nhiêu môi nhấp? Bao nhiêu ngụm buồn, bao nhiêu ngụm vui? Bao nhiêu hơi cay, bao nhiêu men đắng? Bao nhiêu cực nhọc tủi hờn đã đi qua, bao nhiêu nỗi niềm của những phận người bị con sóng lịch sử quăng xa khỏi nơi chôn rau cắt rốn đã đóng cặn vào đáy cốc?

Soi mắt nhìn mưa đêm qua thành ly mỏng mảnh, lòng tôi bỗng dễ vỡ như pha lê.

Monday, December 1, 2014

Có những ngày như thế...

Có những ban mai, tôi thức dậy bằng ánh sáng của hoài nghi - thứ ánh sáng rùng rợn giết chết mọi tế bào yêu sống. Tôi thấy mình nằm đó, trong cái miệng đen ngòm của con quái vật mang tên Tuyệt Vọng. Nó đã ngoạm lấy tôi như thế nào và từ bao giờ, tôi không hay. Có lẽ nó đã chọn nuốt chửng tôi ngay trong giấc ngủ - khi tôi yếu đuối nhất và cô đơn nhất, giữa những giấc mơ phập phồng âu lo, giữa những hoài cảm hoang mang của biết bao lần dấn thân từ ngày mới lớn, giữa mê man những cơn đau tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức bỗng thức dậy nhức nhối thịt da. Nó đã ngoạm lấy tôi giữa bóng tối lặng im - khi tôi nhắm mắt trút bỏ mọi xiêm y, trang sức để trần truồng trong từng ý nghĩ.
Có những ngày, những ý nghĩ đẹp đẽ về tình yêu và hạnh phúc bỏ mặc tôi hoàn toàn cho cái miệng tối âm u của Tuyệt Vọng. Tôi thấy tôi nằm đó, không chút sức lực kháng cự, bởi manh giáp tự vệ tôi cũng đã cởi bỏ mất rồi. Tôi đau đớn nhận ra hạnh phúc sợ hãi trốn trong chiếc áo giáp tôi vẫn mặc hàng ngày, và nó rời bỏ tôi khi tôi trút bỏ manh giáp ấy trước khi chìm sâu vào cơn ngủ. Hoá ra, hạnh phúc thuộc về tấm áo giáp tôi hằng mang chứ không thuộc về tôi. Hoá ra, tôi vẫn là tôi - trơ trọi buồn sầu nguyên thuỷ.
Có những ngày, tôi thức dậy, ngờ vực cả mặt trời.

Monday, November 10, 2014

Trích nhật kí một chuyến điền dã ngược rừng

Ngày 15 tháng... năm 200...
Xe xuất phát từ Viện khoa học xã hội Việt Nam. Đoàn có anh Nguyễn Ngọc Thanh, Viện phó Viện Dân tộc học, anh Nguyễn Hải Đăng, em Lê, em Hà ở Viện dân tộc học, thêm mình với em Lê Thị Dương – Viện Văn học và anh Tùng (giảng viên của đại học Hồng Đức). Đi đường Hồ Chí Minh, qua Hà Đông, rẽ vào đường đi Chùa Hương, qua đập Tràn (gọi đập tràn vì một bên đường có bờ kè cao hơn đường, nước cao mấp mé kè, gần như tràn xuống đường. Từ đường này rẽ trái đi ra đường Hồ Chí Minh. Xe đi qua địa phận của Ninh Bình, qua huyện Nghĩa Đàn, huyện Tân Kỳ, Anh Sơn rồi mới tới Con Cuông. Trời se lạnh, mưa lâm thâm. May là đến đất Nghệ An trời hết mưa.
Đường Hồ Chí Minh thưa vắng, trập trùng đồi núi. Hai bên đường chỉ có những ngôi nhà sàn lẻ loi và bạt ngàn ngô, sắn… Người dân cũng thường tận dụng lề đường để phơi sắn xắt.
Xe đi khá chậm, nghỉ lại ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn. Tới 5 giờ chiều mới về đến nhà khách của UBND huyện Con Cuông. Mình hơi mệt vì ngồi trên xe cả ngày, hơn nữa vì cảm giác buồn bã xâm chiếm mấy hôm nay. Tối tắm rửa rồi chuẩn bị cho cuộc làm việc ngày mai với UBND.

Ngày 16 tháng... năm 200...
Sáng. Làm việc với UBND. May là mình không phải chạy việc giấy tờ gì. Chỉ ngồi chờ để gặp mấy người mà cũng phát chán, đến ngáp dài ngáp ngắn. Gặp được anh Đức trưởng phòng văn hóa huyện cũng khá nhiệt tình, xin được 2 cuốn sách về Con Cuông. Gặp mấy người ở phòng tài nguyên và phòng nông nghiệp. Chiều làm việc với bên Ban quản lý vườn quốc gia  Pù Mát. Mình được giao phỏng vấn phiếu một người thuộc nhóm quản lý rừng Pù Mát mà phát bực lên vì phiếu thiết kế quá chán, không phù hợp để lấy thông tin cho chính xác. Cả ngày không thu được cái gì thú vị làm mình cảm thấy mệt hơn. Trời lạnh hơn vì có đợt không khí lạnh mới. Đoàn định ngủ lại trong khu vực ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát nhưng cuối cùng lại ra nhà khách nghỉ tiếp 1 đêm nữa,

Ngày 17 tháng ... năm 200...
Đoàn đi vào xã Môn Sơn, được coi là xã điểm của huyện Con Cuông. Môn Sơn cách thị trấn 20km, đường dễ đi. Vào đến UBND xã thì đi vắng hết, lại chẳng làm việc được luôn. Chị Vi Thị Tứ, làm ở văn phòng tiếp đón rất nhiệt tình, dẫn mọi người đến nhà một gia đình trong xã để ở lại. Nhà cụ Vi Văn Tưởng có 2 ông bà với một cô con dâu và một đứa cháu nhỏ. Ở nhà sàn mùa này hơi lạnh. Mình còn nhớ cảm giác gió lùa thun thút hôm đi lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp hồi đầu năm.
Chiều. Tập trung được bà con ở nhà bà trưởng bản bản Thái Sơn. Lần đầu tiên thấy một phụ nữ làm trưởng bản. Ban đầu mình nghĩ chắc bà này phải uyên bác hay chuyện lắm. Sau khi phỏng vấn xong được 3 người dân, mình vào ngồi bếp lửa lân la hỏi chuyện. Nhưng không ăn thua. Bà ấy mới 46 tuổi, cũng không biết gì nhiều về văn hóa Thái.
Theo mọi người nói thì người ở thôn này chủ yếu là Tày Thanh. Tày Mường tập trung ở Thái Hòa.

Ngày 18 tháng ... năm 200...
Một ngày làm việc khá hiệu quả. Sáng, cả đoàn tập trung ở Nhà văn hóa cộng đồng bản Thái Sơn. Bà con kéo đến rất đông và mọi người phỏng vấn được một nửa số phiếu cần thiết cho cả chuyến đi (75 phiếu). Mình tranh thủ phỏng vấn sâu được mấy người.
Có thu thập được mấy câu tục ngữ dự báo thời tiết của người Thái ở bản Thái Sơn, xã Môn Sơn:
-       Ngứa đầu thì trời sắp nắng
-       Kiềng đen thì sắp mưa, kiềng trắng thì sắp nắng (kiềng lăm khắm phân, kiềng may khắm lẹt)
-       Cóc kêu thì trời chuẩn bị mưa (cà tù hoọng phạ khắm phân) tương đương câu: Cóc kêu uôm uôm/ Ao chuôm đầy nước
Một số kinh nghiệm xem thời tiết:
-       Thấy con chong chóng[1] kêu thì biết trời sắp mưa lớn.
-       Nếu cây rì rì có rễ chuyển sang màu đỏ thì sắp có lụt to
-       Nếu thấy bầy chim “noộc ràng” – màu trắng bay đầy trời thì sắp có bão lụt.
-       Nếu thấy con gà bay lên ngọn cây cao để ở là biết trời sắp nắng
-       Nhìn ngọn đồi Pù Bon, nếu thấy sương sa xuống (hoặc nhiều mù) là biết trời sắp mưa.
-       Nếu buổi sáng, nhìn đằng đông thấy trời có màu đỏ tía thì sắp có giông tố, lốc.
-       Nếu cây hoa bi trổ hoa đều khoảng 5 – 7 ngày thì sau đó sẽ có mưa to.
-       Nếu thấy có nhiều kiến bò ngang đường là trời sắp mưa
Chiều. Bản Thái Sơn họp nên mọi người chuyển sang làm ở nhà dân. Chọn nhà của ông Dậu ở đội 5 để tập trung bà con. Nhà mất điện, trời lại rét nên mọi người chủ yếu tập trung gần bếp lửa để vừa điều tra phiếu, vừa phỏng vấn sâu. Mình hỏi được một số thông tin về tín ngưỡng và kiêng kị của người Thái ở đây.
Người Thái ở đây chỉ có một nỗi ám ảnh về các loại cây mà họ gọi là cây ma.. Đó là dây “chợ lẻ” – một loại dây leo trong rừng thường có nhiều dây cuộn vào nhau, to bằng bắp tay hoặc hơn. Người ta nói nếu lỡ tay chặt phá loại dây rừng này thì về nhà sẽ bị ốm hoặc bị điên, có thể phải mấy năm sau mới phát. Nếu ai lỡ động tay vào thì phải về nhà giết một đôi gà (1 trống 1 mái, 1 đỏ 1 trắng) để mời thầy mo đi ra cây mà cúng xin trả lễ cho thần cây. Ông thầy mo sẽ phải đi cùng với người lỡ chặt cây tới tận cái cây ấy, nói rõ cây đang đứng ở vùng nào, đường nào, lối nào mà xin cho đúng. Người ta gọi hành động này của ông mo là hú vía trả lễ. Có người cho rằng cây “chợ lẻ” có mủ độc. Khi chặt, nếu không để ý sẽ bị mủ dây vào người, thấm vào người rồi dần dần phát bệnh.
            Loại cây thứ hai bị coi là cây ma là cây “náng tằng” (cây ghế ngồi). Cây này rất to, thường có rễ cuốn ở gốc tạo thành hình như cái ghế. Nếu người nào đi rừng, mệt nhọc quá mà lỡ ngồi vào “cái ghế” ấy hoặc lỡ tay chặt cành của nó thì về nhà sẽ bị ốm (thường là phát bệnh thần kinh).
            Người ta cũng kiêng chặt phá những cặp cây sống cạnh nhau và có thân quấn xoắn xuýt vào nhau. Nếu lấy gỗ ấy làm nhà thì nhà cửa không yên, người động vào cây sẽ bệnh tật, ốm yếu.

Ngày 19 tháng... năm 200...
Một ngày làm việc cực kỳ hiệu quả. Mình thấy vui nhất là gặp được một số chuyện liên quan đến luận án của mình. Cả ngày chỉ đi phỏng vấn sâu. Sáng phỏng vấn 2 người, chiều phỏng vấn 2 người. May là mình gặp được những người hiểu biết cả.
            Sáng. Tiếp xúc với ông mo Vi Kim Sinh, 74 tuổi. Theo ông, trong rừng có rất nhiều ma cây, gồm có:
-       Ma xi éo (ma của 2 cây quấn vào nhau, cứ kêu cót két)
-       Ma “chợ lẻ”
-       Ma “chợ lẻ náng tằng”: cũng là dây chợ lẻ nhưng phần gốc quấn cuộn như cái ghế.
-       Ma “thau khót” (bẫy của ma): là một cái dây rừng (có thể to hoặc có thể rất nhỏ) mọc theo kiểu thắt nút. Gốc và ngọn không thể nào tháo ra được cái nút thắt ấy.
-       Ma sông, ma suối: (cháu nặm bằng pa)
-       Ma rú ma rừng (cháu pù nàng pha)
-       Ma khe ma suối (cháu hối cháu hoóng)
Ông Sinh kể tuần tự việc cúng các loại ma này như sau:
Cúng ma “chợ lẻ”:
-       Ông mo cầm cái áo của người ốm đến dưới gốc cây “chợ lẻ”, đi cùng là 1 người dẫn đường (trong trường hợp không nhớ ra cây ở đâu thì cúng ở nhà)
-       Lễ vật: 1 con chó sống (để cho ma cây) chặt ra 4 phần; 1 con gà đã nấu chín (lễ vật cho thần Đất – cháu lín); 2 chai rượu cho thần đất và ma cây; 1 tấm vải; 1 ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ cho ma cây; cơm hoặc xôi: 4 bát.
-       Ông mo mời thần đất đến chứng cho cuộc cầu cúng này vì thần đất là người thông thạo cả vùng, là chủ còn ông mo chỉ là khách. Không mời thần đất  thì không xong. Ông cũng phải nhờ thần đất gọi ma cây đến. Ông mo dùng hai đồng tiền âm dương để xem thần đất có đến hay không. Phải gieo 2 lần liên tiếp đều được 1 sấp 1 ngửa thì mới xong. Hỏi xem ma cây đến chưa cũng bằng cách tương tự. Nếu gieo mà 2 đồng đều ngửa là ma cười, 2 đồng đều sấp là ma ghét.
-       Sau khi ma đến, ông mo cúng trình bày với ma, con cháu đi rú đi rừng, động đến ma, ma dắt vía nó đi, giờ có chút ít lễ mang đến đây, xin ma trả vía cho nó.
-       Sau khi đợi hương tắt thì đem lễ về.
Cúng ma sông ma suối thì lễ vật là: 2 con gà; rượu, một tấm vải, một ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ. Nếu ta đi sông mà tự nhiên giật mình là vì ma sông ma suối bắt mất vía, phải về nhà cúng để xin vía.
Ngoài ra, cúng các ma khác cũng làm tương tự. Lễ vật đều là gà chỉ có ma “chợ lẻ” là thích thịt chó sống.

Chiều. Phỏng vấn ông Vi Xuân Bình, 87 tuổi. Ông nói thêm mấy loại ma:
-       Ma núi (phí pụ phí pha)
-       Ma nước, ma khe (phí nặm phí huổi phí hoóng)
-       Ma rừng (phí va cạp): ma cũng có làng bản như người, nhưng người không trông thấy được, nếu lỡ động đến bản của ma sẽ bị ma bắt vía.
-       Ma cây đa (phí cò bá)
Ông Hà Văn Phán, 79 tuổi thì cho rằng có mấy loại ma nữa:
-       Ma rừng ma rú (phí pù phí pà)
-       Ma con càng cỏi (Phí ca già háng càng cỏi): con càng cỏi là con giống con khỉ nhưng nhỏ như con mèo, sống  trong rừng, có ma thuật để giết người nên người ta rất sợ. Ma càng cỏi thường theo mùi muối trong lửa để tìm ra con người. Đi rừng, người ta kiêng bỏ muối vào lửa vì sợ con càng cỏi đến. Nếu lỡ để nó nghe thấy mùi mà tìm đến, nó sẽ kêu “càng cỏi” rồi mò đến bếp lửa, không thể nào đánh được vào nó vì nó thoắt ẩn thoắt hiện. Nó thường che mặt của nó và nếu nó rút que củi trong bếp ra thì con người ở gần đấy sẽ bị rút ruột mà chết, vì nó có ma thuật. Lúc ấy, người ta thường khấn xin thần rừng, xin thần uống tạm bát nước chè rồi kêu con càng cỏi về, tha cho con cháu.
Mình sưu tầm thêm được một số câu tục ngữ về dự báo thời tiết:
-       Trời sắp mưa mặt trời không đỏ
Trời nắng khô thì bản của anh mất mùa
(Phạ lọ phân tà nghiềng bó chánh
Phạ lẹt lẹng mường ái xìa mua)

-       Chồng và vợ khóc khản cổ
Khóc đến trời mà trời không mưa
(Phụa tậng mịa choọng khò nắng háy
Háy ha phạ phạ bó phân)

Ngày 20 tháng ... năm 200...
Đêm qua mình có một giấc mơ rất lạ. Mình nhìn thấy một cơn lốc (có hình giống y chang một cái đồng hồ cát, trong veo) đến. Lúc đó, mình đang ở trong một nhà cao tầng, cơn lốc bay qua, chạm vào mọi thứ và gây đổ vỡ, rồi nó lướt qua mình, chạm vào mình, nhẹ bẫng! Cảm giác khi cơn lốc ấy chạm vào mình thật lạ! Dù mở mắt dậy và rất băn khoăn về giấc mơ, nhưng mình cũng ko dám suy nghĩ nhiều đến nó, phải tập trung làm việc nốt trong ngày hôm nay.
Đêm qua, cả hội năm rúc rích mãi, không ngủ được vì xếp T. ngáy quá to. Hic, đúng là như voi gầm. Hai ông bà chủ nhà cũng ko ngủ được, thức dậy đi đi lại lại cùng với anh Đăng. Mọi người càng cảm thấy buồn cười tợn. Đồng chí ấy đang say sưa ngáy, nghe tiếng cười, cáu quá bèn dậy lôi đèn pin đi xuống ô tô ngủ. Được yên tĩnh ngủ một lúc, bỗng nhiên nghe tiếng gà gáy xôn xao. Hình như gà của cả bản đều thức dậy và gáy. Mình nói với mọi người, chết thật, hôm nay vừa nghe mấy người già bảo, gà gáy lúc nửa đêm như thế là có điềm ko lành. Lại xuýt xoa lo lắng. Cuối cùng, cả bọn đồng ý phải xuống gọi xếp T. lên nhà sàn ngủ, ko ngủ một mình dưới xe nữa. Chắc là xếp rất vui, vì thấy mấy đứa lo lắng, dù xếp lên ngáy thì cả bọn lại thức ngủ chập chờn. Giấc mơ đến với mình trong một cơn chập chờn như thế.
      Từ tối qua khi hội ý, mình đã thông báo với anh Thanh là sáng mai mình sẽ qua bản Cằng gặp ông Lương Nghiệp – một nghệ nhân dân gian có tiếng trong vùng. Bản Cằng cách bản Thái Sơn khoảng 3 km. Anh Thanh bảo ngày mai sẽ cho ô tô đưa mình đi. Sáng nay lại nghe anh Thanh bảo sẽ đi cùng, với em Dương nữa. Càng vui!
      Ông Lương Nghiệp là một nghệ nhân dân gian thực thụ. Mình ít thấy người Man Thanh nào tài hoa như ông. Người Thái ở đây chủ yếu là người Man Thanh (họ tự phân biệt họ với người Tày Mường hay còn gọi là người Hàng Tổng). Người Tày Mường thường cầu kỳ hơn trong phục trang và các nghi lễ. Cung cách của ông Nghiệp khiến mình nghĩ tới chú Sầm Bình ở Quỳ Hợp. Rất điềm tĩnh và nhẹ nhàng. Ông Nghiệp đã hơn 50 tuổi nhưng tóc còn xanh, gương mặt nét như tranh vẽ. Ông tự làm nhiều loại nhạc cụ (đàn tập tính, sáo, nhị). Ông chơi thử mấy bài và mời một cô đang có mặt ở nhà ông hát dân ca Thái. Tiếng đàn, tiếng hát làm mọi người bị thu hút rất nhanh. Cả mấy đứa trẻ con đang chơi ngoài sân cũng chạy vào tròn xoe mắt nhìn, không biết chúng nhìn những người lạ với lỉnh kỉnh ba lô, máy móc trên người hay nhìn ông Nghiệp đàn.
      Ông Nghiệp rót rượu mời mình với anh Thanh (em Dương đi phỏng vấn dân xung quanh). Người Thái cứ có khách đến nhà là phải rót rượu. Ơn trời, mình có tửu lượng khá nên uống vô tư. Chuyện của ông Lương Nghiệp cũng khá thú vị. Nhưng điều thú vị hơn là mình cảm nhận rõ chút khác biệt trong hiểu biết của người bản Cằng với người bản Thái Sơn. Có lẽ nào, ở miền rừng núi này, chỉ cách nhau 2 – 3 cây số thì người ta cũng đã có những trải nghiệm văn hóa khác nhau rồi, dù họ cùng một dân tộc?
      Ông Nghiệp cũng giới thiệu với mình về bà mo một – bà Nguyên ở Lục Dạ. Người Thái ở đây phân biệt mo một và mo mồn. Mo một thường là phụ nữ, vì họ dùng sức mạnh của lời ca và tiếng sáo để đuổi tà ma, nghĩa là họ chọn cách ngọt ngào, nhẹ nhàng để dẫn đường cho hồn vía hoặc đuổi tà ma. Mo mồn thì ngược lại, luôn là đàn ông. Mo mồn dùng sức mạnh của âm binh, của gươm giáo để đuổi tà ma. Ngoài ra còn có mo tằng dạo – chuyên cúng cho người chết và mo bói – chuyên bói áo.
Vì lời giới thiệu của ông Nghiệp, mình có kế hoạch luôn cho buổi chiều, dù sao thì chiều nay mình cũng chỉ mới có một cái hẹn với một gia đình ở cuối bản. Tối qua, phải đi bộ từ nhà ấy về, qua một cánh đồng rộng, mình cũng thấy hơi sợ. May mà trên đường gặp hai cô bé đang đi đến nhà bà để ngủ, mình bắt chuyện rồi đi cùng. Đi miền núi nhiều rồi, nhưng mình toàn làm về mảng bùa chú, nghi lễ nên cũng hơi rợn khi phải đi một mình trong bóng tối, trên con đường chỉ mới đi qua một lần.
      Trưa, mình chẳng được ngủ tí nào. Về nhà ăn cơm xong thì đã sắp đến giờ phải đi. Nhà mo Nguyên còn xa hơn, ở xã Lục Dạ. Anh Đăng bảo mình phải đem cái giấy giới thiệu đi mà làm việc cho dễ, nhưng mình thấy không cần. Dù đoàn mình đăng ký công tác ở xã Thái Sơn nhưng mà mình có làm việc với xã đâu, mình làm việc với dân, với những người cụ thể thì họ đâu có phân biệt gì. Họ đều là người Thái ở vùng rừng núi hoang vu này cả thôi. Phân biệt xã này xã kia chỉ là chuyện hành chính.
      Anh Thanh cho lái xe đưa mình đi sang xã Lục Dạ, tìm nhà bà mo Nguyên. Vì bà này nổi tiếng nên chỉ phải hỏi đôi lần là mình tìm được đến nhà. Mình hỏi đúng ngay vào cháu nội của bà – một cậu thanh niên khá sáng sủa, hiền lành. Cậu ấy bảo bà già rồi, chỉ ở nhà một mình thì hơi khó. Mình bảo, ko sao, chỉ cần nói chuyện với bà là được. Cậu ấy có vẻ ái ngại khi thấy mình hăm hở như thế. Mình hơi khó hiểu. Cậu ấy đang đứng với mấy người bạn, hình như định đi đâu đó. Mình nói chỉ cần chỉ đường vào nhà là được, cậu ấy cứ đi với bạn đi. Cậu ấy đi xe về nhà trước, mình cuốc bộ theo sau. Bà mo Nguyên đã 95 tuổi, rất còng. Bà nói chuyện với mình bằng thứ tiếng Kinh khó hiểu. Thì ra đó là mối lo ngại của cậu cháu. Có lúc, bà lại tuôn một tràng tiếng Thái với mình. Mình nghe lõm bõm, ko hiểu gì hết. Đành phải nhờ cậu cháu dịch hộ. Học tiếng Thái mãi cũng chỉ lõm ba lõm bõm, chán thật! Tiếng Thái của người ở đây cũng giống người Thái ở Quỳ Hợp, nhưng nặng hơn tiếng Thái của người Thái Tây Bắc, mình chỉ cảm nhận được như thế.
      Tầm 3 giờ chiều, mình gọi cho xe đến đón về. Qua nhà ông bà Phán ở cuối bản nhưng chỉ có mỗi bà già ở nhà, đang ngồi bên bếp lửa xâu cau tươi vào dây để dành. Mình ngồi nói chuyện một lúc, thấy ko có thêm thông tin gì nên lại cuốc bộ về. Đi qua cánh đồng, thấy rất nhiều chim én, người ta đứng đầy đồng dăng lưới bắt. Hôm qua, nghe ông chủ nhà nói có người bắt được hơn một bao tải.
      Lần đầu tiên mình về nhà sớm nhất hội. Chui vào bếp lửa ngồi, ngồi đến tối mịt, đến nỗi lúc đứng dậy, bàn tay mình toàn mùi khói. Mình về sớm nên phải nấu cơm, đau khổ! Được cái ngồi bếp lửa cũng ấm. Đang ngồi bếp thì thấy có một con chim én bay loạng choạng vào nhà. Cả nhà xông vào bắt mà ko được, một lúc sau thì thấy con mèo vẫn nằm lười bên bếp ngậm được con chim. Không hiểu nó bắt được lúc nào. Bà già bảo đứa cháu trai, ra xin mèo đi. Thằng bé túm chặt con mèo, cướp con chim khỏi miệng nó. Bà già vặt lông, cho vào bếp lửa nướng luôn. Tội nghiệp con chim, nó gầy trơ xương, có gì đâu mà ăn nó.
Đến tối mịt mới thấy mọi người lao xao dưới nhà, về đông đủ. Hôm nay mình mệt rã rời, ăn xong là leo tót lên giường nằm quấn chăn. Phải tranh thủ ngủ lúc xếp T. chưa đặt lưng xuống.



[1] Con chong chóng: một loại côn trùng có cánh, có tiếng kêu như con ve

Ảnh: ông Lương Nghiệp 




 Ông mo Sinh

Bà mo Nguyên


Chiều miền núi


Saturday, June 21, 2014

Khi mẹ nói KHÔNG

         Con gái yêu của mẹ, ngày hôm nay, lần đầu tiên mẹ nhận ra rằng: mẹ yếu đuối nhất trước các con – những thiên thần bé bỏng yếu ớt của mẹ. Mẹ đã nói không với con, tỏ ra cứng rắn khi chối từ một yêu sách nhỏ của con, tỏ ra kiên cường giải thích cho con hiểu trong tiếng con khóc lóc vật vã ngay giữa chốn đông người nhưng thực ra, mẹ chỉ chực khóc vì cảm thấy mình yếu đuối và bất lực.

            Con yêu, cái gói bánh nhỏ con đòi trong chợ là thứ mẹ hoàn toàn có thể thoả mãn con, dễ dàng như một cái tặc lưỡi mà mẹ đã từng đôi ba lần vô thức buột ra khi chiều theo ý muốn của con. Nhưng, hôm nay mẹ đã nói không vì mẹ nhận ra cái “mánh khoé” nhỏ của con và mẹ không muốn con trở nên quen thuộc với nó. Sau vài lần con mè nheo đòi mẹ mua bánh ở chợ, sau vài cái tặc lưỡi của mẹ vì không muốn con gây sự chú ý ở chốn đông người, con đã biết rằng, con có thể lợi dụng đám đông để đòi hỏi mẹ. Mẹ hoảng hốt nhận ra con gái mẹ bắt đầu quen với mánh khoé con tự khám phá ra bằng trí thông minh non nớt của một đứa trẻ sắp lên 4 tuổi. Mẹ nhận ra rằng, con không chỉ biết sử dụng vũ khí nước mắt mà còn biết lợi dụng đám đông để yêu sách vòi vĩnh mẹ. Điều đó, mẹ không bao giờ chấp nhận và không bao giờ cho phép được tiếp diễn! Đó là lí do hôm nay, mẹ đã nói không với con, con gái ạ!
Mẹ muốn con sử dụng trí tuệ của con để học những điều hay chứ không phải để khám phá ra những mánh khoé (rất dễ thành thói tật) chỉ nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của bản thân. Mẹ muốn con hiểu rằng, cái gì cũng có giới hạn, ngay cả những đòi hỏi có vẻ như sơ đẳng của một đứa trẻ đang tập lớn như con. Mẹ hiếm khi nói không với con khi con đòi chơi thêm ở công viên mấy phút, dù cả nhà có thể ăn cơm tối trễ hơn một chút. Mẹ cũng không mấy khi nói không với con khi con đòi đọc thêm một vài cuốn sách trước giờ đi ngủ, tuy có thể đã quá giờ đi ngủ rồi. Dù vậy, mẹ muốn con nhận ra và ý thức mạnh mẽ về sự tồn tại của khước từ. Mẹ muốn con biết, có những thứ hiện diện ngay trong tầm tay nhưng không phải cứ đòi là có. Mẹ muốn con chấp nhận rằng, càng lớn, con sẽ càng phải nghe nhiều lời từ chối, không phải chỉ từ cha mẹ mà còn từ rất nhiều người xung quanh. Đời hiếm lắm những chiều chuộng vuốt ve, những cái gật đầu đồng ý vô tư nhưng lại rất sẵn những cái lắc đầu lạnh lùng và câu chối từ quen thuộc: Không! Đấy là chưa kể, đời nhiều khi còn ném vào ta những từ khước cay nghiệt và xú khắm hơn cái lắc đầu và từ không nhiều lần, con ạ! Mẹ muốn con làm quen với từ không để mai này ra đời, con sẽ bình thản đối mặt những từ khước đa phần là vô lí của nó. Khi bố mẹ chối từ con, chúng ta luôn tìm cách giải thích cho con hiểu lí do của việc đó. Còn đời ấy mà, nó không sẵn câu trả lời, vô cùng hiếm nguyên do hoặc có chăng thì chỉ là lí do lí trấu không hề thực chất. Đời lại càng không đủ kiên nhẫn để giải thích cho con điều gì đâu con ạ. Rất thường xuyên, đời chỉ táng vào ta lời từ khước, thế thôi! Nó bỏ mặc ta trơ trọi một mình với bãi chiến trường thất vọng, đau đớn, mệt nhọc, hoài nghi…, buộc ta phải gượng đứng dậy tự tìm lấy câu trả lời cho vô số câu hỏi mà nó quăng ra vô tội vạ. Mẹ không dám mong con mẹ sẽ không bị đời từ chối bất kì điều gì, vì đó là điều không tưởng. Nhưng mẹ mong, mai này, các con của mẹ sẽ đủ bản lĩnh và sức mạnh nội tâm để đối diện với những chối từ, ngoảnh mặt, phủi tay; sẽ đủ tri thức và trí tuệ để thu vén đời sống giữa ngổn ngang những câu hỏi oái oăm đời bày sẵn. Vì thế, mẹ đã nói không với con hôm nay và sẽ còn tiếp tục nói không với các con ở nhiều trường hợp nữa trong tương lai, cho đến khi con đủ trưởng thành để tự nhiệm với bản thân mình, để tự trả lời những câu hỏi rối rắm hơn cái câu hỏi Có – không đơn giản mà con đang tập hỏi.
Và cuối cùng, mẹ muốn con thấm thía rằng, đám đông không phải/ không nên/ không được phép là phương tiện của đời con. Đám đông nhộn nhạo ấy không hiểu gì con đâu, dù họ có thể tỏ vẻ thông cảm với con. Đám đông a dua ấy không giúp gì con đâu, dù họ có nói với con vài lời tội nghiệp hay gợi ý vu vơ cho mẹ cách làm con nín khóc. Đám đông nông cạn và hời hợt ấy tuyệt đối không quan tâm đến con quá lâu đâu, dù con có gào khóc giãy giụa suốt mấy chục phút đồng hồ ngay trước mắt họ. Thế nên, con đừng bao giờ nghĩ đến chuyện lấy đám đông làm phương tiện hay cứu cánh cho đời con.
Hôm nay, trí thông minh non nớt của con đã nhầm khi hòng lấy đám đông để vòi vĩnh mẹ. Mẹ không sợ đám đông, con ạ. Họ làm sao hiểu được chuyện riêng giữa mẹ con mình. Vì vậy, suốt mấy chục phút con gào thét lôi kéo mẹ quay lại quầy bánh kẹo để mua thứ con muốn, mẹ đã kiên định níu con đứng lại, nói chuyện và tìm mọi cách làm con dịu lại ngay trước mọi cặp mắt đổ dồn về phía mẹ con mình, trong đó, có không ít cái nhìn khó chịu. Có một bà đã không chịu được phải chạy ra yêu cầu mẹ bế con lên, rồi lạnh lùng nói “cảm ơn” khi thấy mẹ bế con lên ngay sau đó. Bà ấy tưởng mẹ làm theo yêu cầu của bà ấy mà không biết rằng, trước cả khi bà ấy nói, mẹ đã nhiều lần cố gắng ôm con vào lòng nhưng bất lực vì sự giãy đạp của con. Mẹ ném trả một cái nhìn sắc lạnh cho bà ấy, không mong bà ấy hiểu mẹ. Mẹ cũng chẳng có thời gian giải thích với bà ta vì điều duy nhất mẹ quan tâm lúc ấy là con. Vài ba người khác đi qua nhìn mẹ ái ngại, nhìn con lắc đầu. Một người đàn ông đi qua nhìn thẳng vào mắt mẹ, giơ tay làm dấu “thump up”, cười cảm thông và bảo rằng: “We are all with you”. Mẹ nhìn anh ta biết ơn, nhưng cũng không định bày tỏ gì thêm, vì mẹ biết rằng người đàn ông đó cũng không hiểu con đâu. Mẹ biết con gái mẹ rất ngoan và hiếm khi mất kiểm soát đến độ như vậy. Chỉ là vì hôm nay con không ngủ trưa ở trường, con mệt sẵn nên dễ dàng cáu bẳn. Chỉ là vì mẹ đã từng tặc lưỡi vài lần chiều chuộng con nên con chưa chấp nhận được việc bị chối từ trong cùng một việc mà trước đó mấy hôm, mẹ vừa thoả mãn con. Chính mẹ đã làm con bối rối trước hành động không nhất quán của mình. Đó là lỗi của mẹ.
Con có thấy không, rằng những người ngoài kia không hiểu gì về mẹ con mình. Chính vì thế mà mẹ không bao giờ cho phép họ xen vào chuyện riêng của mẹ, và mẹ hứa với con rằng, mẹ sẽ tìm mọi cách để bảo vệ con và cuộc sống của con trước sự hung hăng tàn nhẫn và kể cả sự nuông chiều hời hợt của đám đông. Mai này, con sẽ phải đối diện thường xuyên với họ, đám đông ngoài kia. Hãy nhớ lời mẹ, đừng bao giờ choáng ngợp trước họ, bất kể họ định đẩy con lên đỉnh cao hay kéo dìm con xuống vực. Hãy bình thản sống với những giá trị con tự xây đắp cho riêng mình – những điều mà không mấy người trong đám đông ấy có thể hiểu được.
Con yêu, hôm nay, lúc nhìn con giãy giụa thét gào lạc cả giọng, đầu tóc bết mồ hôi, dù mẹ vẫn kiên định nói không nhưng lòng mẹ đau đớn quá! Mẹ chực khóc vì cảm thấy cô đơn và bất lực khi đã làm đủ mọi cách mà con không bình tĩnh lại. Cuối cùng, mẹ cũng cố gắng bế được con về nhà, vừa ôm chặt con giãy giụa trong tay, vừa đẩy xe cho thằng cu Muống. Trên đường về, nước mắt mẹ tuôn như mưa. Con đã sững lại một thoáng khi thấy mẹ im bặt, mím môi không nói gì thêm. Con đã ngạc nhiên thấy nước mắt chan hoà trên mặt mẹ. Rồi con lại tiếp tục khóc lóc, giãy đạp, cào cấu khắp cổ, tay, mặt mẹ. Mẹ không khóc vì những vết xước con để lại trên da thịt mẹ. Mẹ khóc vì thương con và thấy mình yếu đuối làm sao.
Cũng như mấy hôm trước, mẹ đã đau thắt lòng đứng nán lại ngoài cổng trường nghe em trai con - thằng cu Muống khóc khản tiếng. Hôm đó, nó đòi tụt khỏi xe đẩy để tự đi bộ đến trường và mẹ không có lí do gì để từ chối đòi hỏi chính đáng được tập làm người lớn của em. Mẹ chỉ bảo em lúc nào mẹ yêu cầu nắm tay mẹ thì em phải nghe lời. Thế mà lúc sang đường, nó dứt khỏi tay mẹ chạy băng băng liều lĩnh. Mẹ vừa phải đẩy xe cho con, vừa níu em không được, đành phải giằng co với nó để bế nó qua đường rồi đặt nó lại vào xe. Cu Muống gào khóc suốt quãng đường đi và suốt nửa tiếng đầu tiên ở trường học. Mẹ đã ở lại trường cố gắng dỗ dành em nhưng không được, các cô giáo bảo mẹ nên đi về. Ra khỏi cổng trường, mẹ cứ đứng thập thò nghe ngóng động tĩnh mãi, nước mắt trào ra khi nghe em con tiếp tục gào nấc nghẹn ngào. Từ hôm đó, mẹ đã biết rằng, mẹ cần cứng cỏi hơn nữa để có thể bảo vệ các con, để kiên quyết nói không với những hiểm nguy đang rình rập xung quanh các con - kho báu của mẹ. 
Con gái ơi, mẹ muốn con biết rằng, để nói không với các con, thật khó! Mẹ đang phải học từng ngày để làm cái điều không dễ dàng ấy, vì tương lai của các con. Nhưng con nhớ nhé, mẹ sẽ không bao giờ từ khước, nếu các con muốn một vòng tay, một cái ôm và những nụ hôn. Mẹ sẽ không bao giờ từ khước nếu các con muốn được lắng nghe và chia sẻ. Mẹ sẽ không bao giờ từ khước nếu các con cần một bờ vai, bất kì lúc nào, bất kể chuyện gì xảy ra. Mẹ sẽ luôn ở đây chờ các con, với tình yêu vô điều kiện.
Giờ đã là 5 giờ sáng, các con đang say ngủ, còn mẹ vẫn thao thức vì chuyện đã xảy ra hôm nay. Mẹ biết rằng sáng mai thức dậy, cô con gái bướng bỉnh của mẹ sẽ lại vui vẻ và quên hẳn chuyện hôm nay. Đời con sẽ là những ngày tươi vui bất tận (mẹ cầu mong!) và con không cần phải nhớ những thất vọng nhỏ nhặt này làm gì. Nhưng mẹ thì mẹ nhớ, vì mẹ biết mẹ không thể suốt đời bên con. Mẹ muốn giữ từng khoảnh khắc cùng con, dù buồn hay vui nên mẹ viết. Con cứ tận hưởng đời sống đi con yêu, có mẹ đây rồi, mẹ sẽ cặm cụi ghi lại những ngày tháng của các con. Mai này gió bụi cuốn đi hết, thì vẫn còn những dòng chữ này, dành riêng cho các con yêu của mẹ.