Tuesday, November 18, 2014

Nói với những cây gậy...

Này bạn, tôi thật tình không muốn nói chuyện với bạn và lỡ có phải nói về bạn, tôi không biết gọi bạn là gì. Thôi, thì cứ vin vào mấy cái quán ngữ đã quen môi của thiên hạ để tạmgọi bạn vậy. Tôi sẽ gọi bạn là cây gậy – cây gậy chỉ thích “đâm sau lưng”, cây gậy chỉ thích chơi trò “chọc gậy bánh xe”, cây gậy tôi có quen mà không biết, cây gậy tôi chưa từng muốn gần...  Bạn là ai đó cụ thể mà cũng là vạn người đang ngoi ngóp giữa cuộc đời này, sống bám vào những tạp chất rác rưởi của thiên hạ.
Bạn ưa rúc mặt vào những “hũ mắm thối” riêng tư mà nhà nào cũng muốn giấu nhẹm đi cho đời đỡ bẩn? Bạn coi việc rỉa rói vào chuyện cá nhân của người khác là một thú vui? Có bao giờ bạn soi gương để tự thấy cái vẻ mãn nguyện tột bậc của chính mình khi thả sức “buôn dưa lê” bới rác thiên hạ và rỉa rói những thây ma tin đồn? Thử một lần xem, tôi cá là bạn sẽ choáng váng khi thấy toàn thân nhuốm đen như thể sắp biến thành kền kền đói tử khí!
Thế nên, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy tôi im lặng tránh xa bạn, trong khi bạn cho rằng lẽ ra tôi phải hào hứng cảm tạ bạn đã mời tôi tham dự bữa tiệc đầy ắp những tin đồn thú vị của thiên hạ. Xin lỗi bạn, bữa tiệc của bạn chỉ là một đống rác bầy hầy lúc nhúc sâu bọ đối với tôi bởi tôi không có đôi mắt cú vọ chỉ biết rình rập sơ hở của đối phương, không có cái mỏ đói xác chết của lũ kền kền. Cha mẹ cho tôi đôi mắt của con người – đôi mắt biết hướng sáng và ghê tởm những chuyện tối tăm. Cha mẹ cho tôi cái miệng của con người – cái miệng biết cười khi vui, biết mím chặt khi giận dữ, bất bình và biết nhếch lên khinh khi lúc buộc phải nghe những chuyện  từ những cây gậy chuyên nghề chọc ngoáy như bạn.
Bạn ơi, bạn lấy rác làm vui, đó là quyền của bạn, nhưng làm ơn giữ phép lịch sự tối thiểu hộ tôi, đừng tha rác của thiên hạ vào nhà tôi, đừng cố gắng làm tôi mù mắt vì những xú uế bạn đang hít say sưa, đừng cố gắng khiến tâm trí tôi bấn loạn bởi những tạp nham bẩn tưởi bạn đang nhồm nhoàm trong niềm hân thưởng quái dị của riêng bạn. Đừng, xin đừng!
Bỏ lỗi cho tôi nếu bỗng dưng bạn thấy tôi lạnh nhạt, chỉ vì tôi không những không thể chia sẻ được cáithứ hân hoan quái đản của bạn mà còn ghê sợ thứ mùi nồng nặc toả ra từ bạn. Bạn không nghĩ rằng, nếu cứ chúi đầu vào đống rác, bạn sẽ ám mùi của rác sao? Bạn có biết, khi bạn “đâm sau lưng người khác” bằng những tin đồn không rõ bạn bới được ở đâu ra với một niềm hoan hỉ như không, tôi đã nghĩ gì? Chắc bạn không quan tâm, vì còn mải chế biến và thưởng thức món rác sao cho thật ngon lành. Tôi sẽ nói ngay với bạn rằng, điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi được bạn mời vào bữa tiệc rác không phải là những ý nghĩ xấu xa về đối tượng bạn đang nói xấu cho vui miệng, lại càng không phải là sự khâm phục bạn thạo chuyện thạo người. Tôinghĩ thầm: bao giờ, bạn sẽ bới móc chuyện đời tôi và cho tôi lên bàn nhậu? Bao giờ sẽ đến lượt tôi?
Bạn ra vẻ cao ngạo bảo rằng bạn trọng tôi lắm, thương tôi lắm nên bạn mới mớm cho tôi những chuyện bí mật này, để tôi biết lòng thiên hạ mà sống cho phải. Xin lỗi bạn, bạn làm thế là bạn khinh tôi quá! Tôi cũng có cái đầu trên cổ như bạn, nếu bạn sử dụng đầu bạn để rúc vào đống rác, đó là quyền của bạn nhưng đừng xúi tôi phải làm như bạn. Tôi dùng đầu của tôi theo cách của tôi, mà trước hết tôi dùng cái đầu ưa suy tư của tôi để tránh xa những đống phế thải của thiên hạ - những thứ chỉ gây tắc nghẽn những ý nghĩ tốt đẹp, thiện lương.
            Tôi biết, rác không chỉ là thú vui với bạn, nó còn là cách bạn thu hút sự chú ý của thiên hạ. Tiếc cho bạn, thiên hạ có thể sẽ để ý đến bạn vì những thứ rác rưởi bạn sống tầm gửi vào, nhưng mấy ai hân hoan được với niềm vui rỉa rói thây ma tin đồn cùng với bạn được thật lâu. Kể cả những kẻ nhậu tin đồn nhiệt tình nhất thì cũng chả ngồi lại lâu với bạn làm gì, vì họ còn bận đi nhậu ở đám khác. Bạn sẽ phải ngồi lại một mình với đống rác bạn vừa nhặt về, lạy ông đi qua lạy bà đi lại để tìm đồng cảm, để kiếm sự quan tâm. Hoặc bạn sẽ theo chân những cây gậy khác đi bới tiếp những đống rác khác. Đời bạn sẽ là những chuỗi ngày bới rác. Bạn sẽ “sống trong rác, chết vùi trong rác”... Và người đời sẽ nhắc đến bạn chỉ vì bạnlà người mang rác ra khoe chứ không có gì hơn. Bạn ơi, bạn cam tâm sống như thế sao?
            Cha mẹ bạn chắc đã kì vọng rằng, bạn sẽ dùng đôi mắt mẹ cha sinh để ngắm hoa ngắm lá ngắm mặt trời, sẽ dùng đôi tai loài người để nghe lời hay ý đẹp, sẽ tìm thấy những niềm vui và khát vọng đẹp đẽ trên đời để sống thật ý nghĩa. Hãy một lần thôi, kể với tôi chuyện gì đẹp đẽ, nói với tôi những lời tốt đẹp về người nào đó gần bạn, bạn sẽ thấy tôi thôi nhếch mép, bạn sẽ thấy tôi nở nụ cười đồng điệu.
            Tôi không dám tin bạn sẽ nghĩ khác đi, làm khác đi cách bạn đang làm, khi xung quanh bạn, người người nhà nhà đang đói cạn niềm tin, đói cạn tình yêu, đói cạn cảm hứng. Họ chỉ biết bám vào những tin tức lá cải để thoả mãn cơn dâm dật tinh thần bệnh hoạn. Thông cảm với bạn, nhưng tôi phải xa bạn thôi. Vĩnh biệt, những cây gậy trong đời tôi.

Monday, November 10, 2014

Trích nhật kí một chuyến điền dã ngược rừng

Ngày 15 tháng... năm 200...
Xe xuất phát từ Viện khoa học xã hội Việt Nam. Đoàn có anh Nguyễn Ngọc Thanh, Viện phó Viện Dân tộc học, anh Nguyễn Hải Đăng, em Lê, em Hà ở Viện dân tộc học, thêm mình với em Lê Thị Dương – Viện Văn học và anh Tùng (giảng viên của đại học Hồng Đức). Đi đường Hồ Chí Minh, qua Hà Đông, rẽ vào đường đi Chùa Hương, qua đập Tràn (gọi đập tràn vì một bên đường có bờ kè cao hơn đường, nước cao mấp mé kè, gần như tràn xuống đường. Từ đường này rẽ trái đi ra đường Hồ Chí Minh. Xe đi qua địa phận của Ninh Bình, qua huyện Nghĩa Đàn, huyện Tân Kỳ, Anh Sơn rồi mới tới Con Cuông. Trời se lạnh, mưa lâm thâm. May là đến đất Nghệ An trời hết mưa.
Đường Hồ Chí Minh thưa vắng, trập trùng đồi núi. Hai bên đường chỉ có những ngôi nhà sàn lẻ loi và bạt ngàn ngô, sắn… Người dân cũng thường tận dụng lề đường để phơi sắn xắt.
Xe đi khá chậm, nghỉ lại ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn. Tới 5 giờ chiều mới về đến nhà khách của UBND huyện Con Cuông. Mình hơi mệt vì ngồi trên xe cả ngày, hơn nữa vì cảm giác buồn bã xâm chiếm mấy hôm nay. Tối tắm rửa rồi chuẩn bị cho cuộc làm việc ngày mai với UBND.

Ngày 16 tháng... năm 200...
Sáng. Làm việc với UBND. May là mình không phải chạy việc giấy tờ gì. Chỉ ngồi chờ để gặp mấy người mà cũng phát chán, đến ngáp dài ngáp ngắn. Gặp được anh Đức trưởng phòng văn hóa huyện cũng khá nhiệt tình, xin được 2 cuốn sách về Con Cuông. Gặp mấy người ở phòng tài nguyên và phòng nông nghiệp. Chiều làm việc với bên Ban quản lý vườn quốc gia  Pù Mát. Mình được giao phỏng vấn phiếu một người thuộc nhóm quản lý rừng Pù Mát mà phát bực lên vì phiếu thiết kế quá chán, không phù hợp để lấy thông tin cho chính xác. Cả ngày không thu được cái gì thú vị làm mình cảm thấy mệt hơn. Trời lạnh hơn vì có đợt không khí lạnh mới. Đoàn định ngủ lại trong khu vực ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát nhưng cuối cùng lại ra nhà khách nghỉ tiếp 1 đêm nữa,

Ngày 17 tháng ... năm 200...
Đoàn đi vào xã Môn Sơn, được coi là xã điểm của huyện Con Cuông. Môn Sơn cách thị trấn 20km, đường dễ đi. Vào đến UBND xã thì đi vắng hết, lại chẳng làm việc được luôn. Chị Vi Thị Tứ, làm ở văn phòng tiếp đón rất nhiệt tình, dẫn mọi người đến nhà một gia đình trong xã để ở lại. Nhà cụ Vi Văn Tưởng có 2 ông bà với một cô con dâu và một đứa cháu nhỏ. Ở nhà sàn mùa này hơi lạnh. Mình còn nhớ cảm giác gió lùa thun thút hôm đi lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp hồi đầu năm.
Chiều. Tập trung được bà con ở nhà bà trưởng bản bản Thái Sơn. Lần đầu tiên thấy một phụ nữ làm trưởng bản. Ban đầu mình nghĩ chắc bà này phải uyên bác hay chuyện lắm. Sau khi phỏng vấn xong được 3 người dân, mình vào ngồi bếp lửa lân la hỏi chuyện. Nhưng không ăn thua. Bà ấy mới 46 tuổi, cũng không biết gì nhiều về văn hóa Thái.
Theo mọi người nói thì người ở thôn này chủ yếu là Tày Thanh. Tày Mường tập trung ở Thái Hòa.

Ngày 18 tháng ... năm 200...
Một ngày làm việc khá hiệu quả. Sáng, cả đoàn tập trung ở Nhà văn hóa cộng đồng bản Thái Sơn. Bà con kéo đến rất đông và mọi người phỏng vấn được một nửa số phiếu cần thiết cho cả chuyến đi (75 phiếu). Mình tranh thủ phỏng vấn sâu được mấy người.
Có thu thập được mấy câu tục ngữ dự báo thời tiết của người Thái ở bản Thái Sơn, xã Môn Sơn:
-       Ngứa đầu thì trời sắp nắng
-       Kiềng đen thì sắp mưa, kiềng trắng thì sắp nắng (kiềng lăm khắm phân, kiềng may khắm lẹt)
-       Cóc kêu thì trời chuẩn bị mưa (cà tù hoọng phạ khắm phân) tương đương câu: Cóc kêu uôm uôm/ Ao chuôm đầy nước
Một số kinh nghiệm xem thời tiết:
-       Thấy con chong chóng[1] kêu thì biết trời sắp mưa lớn.
-       Nếu cây rì rì có rễ chuyển sang màu đỏ thì sắp có lụt to
-       Nếu thấy bầy chim “noộc ràng” – màu trắng bay đầy trời thì sắp có bão lụt.
-       Nếu thấy con gà bay lên ngọn cây cao để ở là biết trời sắp nắng
-       Nhìn ngọn đồi Pù Bon, nếu thấy sương sa xuống (hoặc nhiều mù) là biết trời sắp mưa.
-       Nếu buổi sáng, nhìn đằng đông thấy trời có màu đỏ tía thì sắp có giông tố, lốc.
-       Nếu cây hoa bi trổ hoa đều khoảng 5 – 7 ngày thì sau đó sẽ có mưa to.
-       Nếu thấy có nhiều kiến bò ngang đường là trời sắp mưa
Chiều. Bản Thái Sơn họp nên mọi người chuyển sang làm ở nhà dân. Chọn nhà của ông Dậu ở đội 5 để tập trung bà con. Nhà mất điện, trời lại rét nên mọi người chủ yếu tập trung gần bếp lửa để vừa điều tra phiếu, vừa phỏng vấn sâu. Mình hỏi được một số thông tin về tín ngưỡng và kiêng kị của người Thái ở đây.
Người Thái ở đây chỉ có một nỗi ám ảnh về các loại cây mà họ gọi là cây ma.. Đó là dây “chợ lẻ” – một loại dây leo trong rừng thường có nhiều dây cuộn vào nhau, to bằng bắp tay hoặc hơn. Người ta nói nếu lỡ tay chặt phá loại dây rừng này thì về nhà sẽ bị ốm hoặc bị điên, có thể phải mấy năm sau mới phát. Nếu ai lỡ động tay vào thì phải về nhà giết một đôi gà (1 trống 1 mái, 1 đỏ 1 trắng) để mời thầy mo đi ra cây mà cúng xin trả lễ cho thần cây. Ông thầy mo sẽ phải đi cùng với người lỡ chặt cây tới tận cái cây ấy, nói rõ cây đang đứng ở vùng nào, đường nào, lối nào mà xin cho đúng. Người ta gọi hành động này của ông mo là hú vía trả lễ. Có người cho rằng cây “chợ lẻ” có mủ độc. Khi chặt, nếu không để ý sẽ bị mủ dây vào người, thấm vào người rồi dần dần phát bệnh.
            Loại cây thứ hai bị coi là cây ma là cây “náng tằng” (cây ghế ngồi). Cây này rất to, thường có rễ cuốn ở gốc tạo thành hình như cái ghế. Nếu người nào đi rừng, mệt nhọc quá mà lỡ ngồi vào “cái ghế” ấy hoặc lỡ tay chặt cành của nó thì về nhà sẽ bị ốm (thường là phát bệnh thần kinh).
            Người ta cũng kiêng chặt phá những cặp cây sống cạnh nhau và có thân quấn xoắn xuýt vào nhau. Nếu lấy gỗ ấy làm nhà thì nhà cửa không yên, người động vào cây sẽ bệnh tật, ốm yếu.

Ngày 19 tháng... năm 200...
Một ngày làm việc cực kỳ hiệu quả. Mình thấy vui nhất là gặp được một số chuyện liên quan đến luận án của mình. Cả ngày chỉ đi phỏng vấn sâu. Sáng phỏng vấn 2 người, chiều phỏng vấn 2 người. May là mình gặp được những người hiểu biết cả.
            Sáng. Tiếp xúc với ông mo Vi Kim Sinh, 74 tuổi. Theo ông, trong rừng có rất nhiều ma cây, gồm có:
-       Ma xi éo (ma của 2 cây quấn vào nhau, cứ kêu cót két)
-       Ma “chợ lẻ”
-       Ma “chợ lẻ náng tằng”: cũng là dây chợ lẻ nhưng phần gốc quấn cuộn như cái ghế.
-       Ma “thau khót” (bẫy của ma): là một cái dây rừng (có thể to hoặc có thể rất nhỏ) mọc theo kiểu thắt nút. Gốc và ngọn không thể nào tháo ra được cái nút thắt ấy.
-       Ma sông, ma suối: (cháu nặm bằng pa)
-       Ma rú ma rừng (cháu pù nàng pha)
-       Ma khe ma suối (cháu hối cháu hoóng)
Ông Sinh kể tuần tự việc cúng các loại ma này như sau:
Cúng ma “chợ lẻ”:
-       Ông mo cầm cái áo của người ốm đến dưới gốc cây “chợ lẻ”, đi cùng là 1 người dẫn đường (trong trường hợp không nhớ ra cây ở đâu thì cúng ở nhà)
-       Lễ vật: 1 con chó sống (để cho ma cây) chặt ra 4 phần; 1 con gà đã nấu chín (lễ vật cho thần Đất – cháu lín); 2 chai rượu cho thần đất và ma cây; 1 tấm vải; 1 ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ cho ma cây; cơm hoặc xôi: 4 bát.
-       Ông mo mời thần đất đến chứng cho cuộc cầu cúng này vì thần đất là người thông thạo cả vùng, là chủ còn ông mo chỉ là khách. Không mời thần đất  thì không xong. Ông cũng phải nhờ thần đất gọi ma cây đến. Ông mo dùng hai đồng tiền âm dương để xem thần đất có đến hay không. Phải gieo 2 lần liên tiếp đều được 1 sấp 1 ngửa thì mới xong. Hỏi xem ma cây đến chưa cũng bằng cách tương tự. Nếu gieo mà 2 đồng đều ngửa là ma cười, 2 đồng đều sấp là ma ghét.
-       Sau khi ma đến, ông mo cúng trình bày với ma, con cháu đi rú đi rừng, động đến ma, ma dắt vía nó đi, giờ có chút ít lễ mang đến đây, xin ma trả vía cho nó.
-       Sau khi đợi hương tắt thì đem lễ về.
Cúng ma sông ma suối thì lễ vật là: 2 con gà; rượu, một tấm vải, một ít tiền hoặc vòng tay vòng cổ. Nếu ta đi sông mà tự nhiên giật mình là vì ma sông ma suối bắt mất vía, phải về nhà cúng để xin vía.
Ngoài ra, cúng các ma khác cũng làm tương tự. Lễ vật đều là gà chỉ có ma “chợ lẻ” là thích thịt chó sống.

Chiều. Phỏng vấn ông Vi Xuân Bình, 87 tuổi. Ông nói thêm mấy loại ma:
-       Ma núi (phí pụ phí pha)
-       Ma nước, ma khe (phí nặm phí huổi phí hoóng)
-       Ma rừng (phí va cạp): ma cũng có làng bản như người, nhưng người không trông thấy được, nếu lỡ động đến bản của ma sẽ bị ma bắt vía.
-       Ma cây đa (phí cò bá)
Ông Hà Văn Phán, 79 tuổi thì cho rằng có mấy loại ma nữa:
-       Ma rừng ma rú (phí pù phí pà)
-       Ma con càng cỏi (Phí ca già háng càng cỏi): con càng cỏi là con giống con khỉ nhưng nhỏ như con mèo, sống  trong rừng, có ma thuật để giết người nên người ta rất sợ. Ma càng cỏi thường theo mùi muối trong lửa để tìm ra con người. Đi rừng, người ta kiêng bỏ muối vào lửa vì sợ con càng cỏi đến. Nếu lỡ để nó nghe thấy mùi mà tìm đến, nó sẽ kêu “càng cỏi” rồi mò đến bếp lửa, không thể nào đánh được vào nó vì nó thoắt ẩn thoắt hiện. Nó thường che mặt của nó và nếu nó rút que củi trong bếp ra thì con người ở gần đấy sẽ bị rút ruột mà chết, vì nó có ma thuật. Lúc ấy, người ta thường khấn xin thần rừng, xin thần uống tạm bát nước chè rồi kêu con càng cỏi về, tha cho con cháu.
Mình sưu tầm thêm được một số câu tục ngữ về dự báo thời tiết:
-       Trời sắp mưa mặt trời không đỏ
Trời nắng khô thì bản của anh mất mùa
(Phạ lọ phân tà nghiềng bó chánh
Phạ lẹt lẹng mường ái xìa mua)

-       Chồng và vợ khóc khản cổ
Khóc đến trời mà trời không mưa
(Phụa tậng mịa choọng khò nắng háy
Háy ha phạ phạ bó phân)

Ngày 20 tháng ... năm 200...
Đêm qua mình có một giấc mơ rất lạ. Mình nhìn thấy một cơn lốc (có hình giống y chang một cái đồng hồ cát, trong veo) đến. Lúc đó, mình đang ở trong một nhà cao tầng, cơn lốc bay qua, chạm vào mọi thứ và gây đổ vỡ, rồi nó lướt qua mình, chạm vào mình, nhẹ bẫng! Cảm giác khi cơn lốc ấy chạm vào mình thật lạ! Dù mở mắt dậy và rất băn khoăn về giấc mơ, nhưng mình cũng ko dám suy nghĩ nhiều đến nó, phải tập trung làm việc nốt trong ngày hôm nay.
Đêm qua, cả hội năm rúc rích mãi, không ngủ được vì xếp T. ngáy quá to. Hic, đúng là như voi gầm. Hai ông bà chủ nhà cũng ko ngủ được, thức dậy đi đi lại lại cùng với anh Đăng. Mọi người càng cảm thấy buồn cười tợn. Đồng chí ấy đang say sưa ngáy, nghe tiếng cười, cáu quá bèn dậy lôi đèn pin đi xuống ô tô ngủ. Được yên tĩnh ngủ một lúc, bỗng nhiên nghe tiếng gà gáy xôn xao. Hình như gà của cả bản đều thức dậy và gáy. Mình nói với mọi người, chết thật, hôm nay vừa nghe mấy người già bảo, gà gáy lúc nửa đêm như thế là có điềm ko lành. Lại xuýt xoa lo lắng. Cuối cùng, cả bọn đồng ý phải xuống gọi xếp T. lên nhà sàn ngủ, ko ngủ một mình dưới xe nữa. Chắc là xếp rất vui, vì thấy mấy đứa lo lắng, dù xếp lên ngáy thì cả bọn lại thức ngủ chập chờn. Giấc mơ đến với mình trong một cơn chập chờn như thế.
      Từ tối qua khi hội ý, mình đã thông báo với anh Thanh là sáng mai mình sẽ qua bản Cằng gặp ông Lương Nghiệp – một nghệ nhân dân gian có tiếng trong vùng. Bản Cằng cách bản Thái Sơn khoảng 3 km. Anh Thanh bảo ngày mai sẽ cho ô tô đưa mình đi. Sáng nay lại nghe anh Thanh bảo sẽ đi cùng, với em Dương nữa. Càng vui!
      Ông Lương Nghiệp là một nghệ nhân dân gian thực thụ. Mình ít thấy người Man Thanh nào tài hoa như ông. Người Thái ở đây chủ yếu là người Man Thanh (họ tự phân biệt họ với người Tày Mường hay còn gọi là người Hàng Tổng). Người Tày Mường thường cầu kỳ hơn trong phục trang và các nghi lễ. Cung cách của ông Nghiệp khiến mình nghĩ tới chú Sầm Bình ở Quỳ Hợp. Rất điềm tĩnh và nhẹ nhàng. Ông Nghiệp đã hơn 50 tuổi nhưng tóc còn xanh, gương mặt nét như tranh vẽ. Ông tự làm nhiều loại nhạc cụ (đàn tập tính, sáo, nhị). Ông chơi thử mấy bài và mời một cô đang có mặt ở nhà ông hát dân ca Thái. Tiếng đàn, tiếng hát làm mọi người bị thu hút rất nhanh. Cả mấy đứa trẻ con đang chơi ngoài sân cũng chạy vào tròn xoe mắt nhìn, không biết chúng nhìn những người lạ với lỉnh kỉnh ba lô, máy móc trên người hay nhìn ông Nghiệp đàn.
      Ông Nghiệp rót rượu mời mình với anh Thanh (em Dương đi phỏng vấn dân xung quanh). Người Thái cứ có khách đến nhà là phải rót rượu. Ơn trời, mình có tửu lượng khá nên uống vô tư. Chuyện của ông Lương Nghiệp cũng khá thú vị. Nhưng điều thú vị hơn là mình cảm nhận rõ chút khác biệt trong hiểu biết của người bản Cằng với người bản Thái Sơn. Có lẽ nào, ở miền rừng núi này, chỉ cách nhau 2 – 3 cây số thì người ta cũng đã có những trải nghiệm văn hóa khác nhau rồi, dù họ cùng một dân tộc?
      Ông Nghiệp cũng giới thiệu với mình về bà mo một – bà Nguyên ở Lục Dạ. Người Thái ở đây phân biệt mo một và mo mồn. Mo một thường là phụ nữ, vì họ dùng sức mạnh của lời ca và tiếng sáo để đuổi tà ma, nghĩa là họ chọn cách ngọt ngào, nhẹ nhàng để dẫn đường cho hồn vía hoặc đuổi tà ma. Mo mồn thì ngược lại, luôn là đàn ông. Mo mồn dùng sức mạnh của âm binh, của gươm giáo để đuổi tà ma. Ngoài ra còn có mo tằng dạo – chuyên cúng cho người chết và mo bói – chuyên bói áo.
Vì lời giới thiệu của ông Nghiệp, mình có kế hoạch luôn cho buổi chiều, dù sao thì chiều nay mình cũng chỉ mới có một cái hẹn với một gia đình ở cuối bản. Tối qua, phải đi bộ từ nhà ấy về, qua một cánh đồng rộng, mình cũng thấy hơi sợ. May mà trên đường gặp hai cô bé đang đi đến nhà bà để ngủ, mình bắt chuyện rồi đi cùng. Đi miền núi nhiều rồi, nhưng mình toàn làm về mảng bùa chú, nghi lễ nên cũng hơi rợn khi phải đi một mình trong bóng tối, trên con đường chỉ mới đi qua một lần.
      Trưa, mình chẳng được ngủ tí nào. Về nhà ăn cơm xong thì đã sắp đến giờ phải đi. Nhà mo Nguyên còn xa hơn, ở xã Lục Dạ. Anh Đăng bảo mình phải đem cái giấy giới thiệu đi mà làm việc cho dễ, nhưng mình thấy không cần. Dù đoàn mình đăng ký công tác ở xã Thái Sơn nhưng mà mình có làm việc với xã đâu, mình làm việc với dân, với những người cụ thể thì họ đâu có phân biệt gì. Họ đều là người Thái ở vùng rừng núi hoang vu này cả thôi. Phân biệt xã này xã kia chỉ là chuyện hành chính.
      Anh Thanh cho lái xe đưa mình đi sang xã Lục Dạ, tìm nhà bà mo Nguyên. Vì bà này nổi tiếng nên chỉ phải hỏi đôi lần là mình tìm được đến nhà. Mình hỏi đúng ngay vào cháu nội của bà – một cậu thanh niên khá sáng sủa, hiền lành. Cậu ấy bảo bà già rồi, chỉ ở nhà một mình thì hơi khó. Mình bảo, ko sao, chỉ cần nói chuyện với bà là được. Cậu ấy có vẻ ái ngại khi thấy mình hăm hở như thế. Mình hơi khó hiểu. Cậu ấy đang đứng với mấy người bạn, hình như định đi đâu đó. Mình nói chỉ cần chỉ đường vào nhà là được, cậu ấy cứ đi với bạn đi. Cậu ấy đi xe về nhà trước, mình cuốc bộ theo sau. Bà mo Nguyên đã 95 tuổi, rất còng. Bà nói chuyện với mình bằng thứ tiếng Kinh khó hiểu. Thì ra đó là mối lo ngại của cậu cháu. Có lúc, bà lại tuôn một tràng tiếng Thái với mình. Mình nghe lõm bõm, ko hiểu gì hết. Đành phải nhờ cậu cháu dịch hộ. Học tiếng Thái mãi cũng chỉ lõm ba lõm bõm, chán thật! Tiếng Thái của người ở đây cũng giống người Thái ở Quỳ Hợp, nhưng nặng hơn tiếng Thái của người Thái Tây Bắc, mình chỉ cảm nhận được như thế.
      Tầm 3 giờ chiều, mình gọi cho xe đến đón về. Qua nhà ông bà Phán ở cuối bản nhưng chỉ có mỗi bà già ở nhà, đang ngồi bên bếp lửa xâu cau tươi vào dây để dành. Mình ngồi nói chuyện một lúc, thấy ko có thêm thông tin gì nên lại cuốc bộ về. Đi qua cánh đồng, thấy rất nhiều chim én, người ta đứng đầy đồng dăng lưới bắt. Hôm qua, nghe ông chủ nhà nói có người bắt được hơn một bao tải.
      Lần đầu tiên mình về nhà sớm nhất hội. Chui vào bếp lửa ngồi, ngồi đến tối mịt, đến nỗi lúc đứng dậy, bàn tay mình toàn mùi khói. Mình về sớm nên phải nấu cơm, đau khổ! Được cái ngồi bếp lửa cũng ấm. Đang ngồi bếp thì thấy có một con chim én bay loạng choạng vào nhà. Cả nhà xông vào bắt mà ko được, một lúc sau thì thấy con mèo vẫn nằm lười bên bếp ngậm được con chim. Không hiểu nó bắt được lúc nào. Bà già bảo đứa cháu trai, ra xin mèo đi. Thằng bé túm chặt con mèo, cướp con chim khỏi miệng nó. Bà già vặt lông, cho vào bếp lửa nướng luôn. Tội nghiệp con chim, nó gầy trơ xương, có gì đâu mà ăn nó.
Đến tối mịt mới thấy mọi người lao xao dưới nhà, về đông đủ. Hôm nay mình mệt rã rời, ăn xong là leo tót lên giường nằm quấn chăn. Phải tranh thủ ngủ lúc xếp T. chưa đặt lưng xuống.



[1] Con chong chóng: một loại côn trùng có cánh, có tiếng kêu như con ve

Ảnh: ông Lương Nghiệp 




 Ông mo Sinh

Bà mo Nguyên


Chiều miền núi


Monday, November 3, 2014

Nắng...

Berkeley được bữa nóng tưng bừng như mùa hè nhiệt đới. Nàng sung sướng lôi cái áo lụa hai dây màu xanh lá và cái quần shorts trắng ra mặc rồi đi bát phố một vòng hứng nắng. 
Berkeley từng làm nàng thất vọng vì suốt mùa hè vẫn chỉ một mực dịu dàng mát mẻ 22-23 độ C. Nàng sinh vào mùa hè, ở đất miền Trung rát bỏng gió Lào nên suốt năm đầu ở Berkeley chỉ chực chờ một lần thật nắng, thật nóng, thật nhễ nhại cho đỡ khát nắng quê. Sau hơn hai năm ở Berkeley, nàng đã rèn được tính nhẫn nại cho những mỏi mong oi nồng nắng hạ. Phải chờ đến cuối hè, Berkeley mới có đôi tuần nóng rát - được gọi là mùa hè Ấn Độ. Thế mà năm nay, mới đầu hè mà Berkeley đã đãi nàng một chầu nóng đã đời. Có nhẽ nào thành phố đáng yêu biết hè này nàng không được về quê? ;)
Bước chân ra phố, nắng táp da bỏng rát, nóng gọi mồ hôi túa ra dưới gáy, nhoi nhoi dưới chân tóc khiến nàng chỉ muốn giật phắt cái mũ cói ra phe phẩy mấy cái. Tự nhiên thèm một cái nón. Nhớ cái nón có quai nhung tím của bà ngoại, nhớ những cơn gió hây hẩy từ nón bà quạt. Nhớ sang cả mấy cái quạt giấy tím có đục lỗ của bà. Nhớ tay bà quạt không ngơi suốt những đêm hè mất điện, những trưa oi nồng trời im không bóng gió. Rưng rức nhớ bà, bà ơi…
Nhớ những trận gió Lào khô nẻ cả làn môi con gái mới lớn, những trận gió bỏng chiếu bỏng giường buốt rát da dậy thì. Thời đại chiếu tre cũng không ăn thua gì với cái nóng ác liệt của xứ gió Lào. Cứ trước khi lên giường, mẹ nàng sai hai chị em dấp khăn ướt lau chiếu tre để nằm cho mát, nhưng chiếu lau đến bóng nhẵn mà vừa đặt lưng xuống đã thấy rát lưng. Nắng khổ nắng sở, nắng đốt khô quắt khô queo cả người lẫn cây, thế mà sao nàng vẫn yêu, vẫn nhớ, vẫn khát, vẫn thèm?
Vì nắng khiến mấy cái kem que mẹ đi làm về buổi trưa tạt qua viện 172 mua cho chị em nàng trở thành thứ cao lương mỹ vị. Vì nắng khiến mấy trăm đồng đá lạnh đủ làm thành một đại tiệc "nhai" cho lũ trẻ con nghèo trong xóm. Nắng khiến mấy gióng mía mẹ trồng ngoài vườn ngọt lừ. Nắng khiến chị em nàng háo hức chờ một thức uống ngon lành từ tay mẹ sau mỗi giấc ngủ trưa mệt nhọc. Bữa thì ca mía róc sẵn, bữa thì cốc nước chanh, bữa thì cốc cà kiu dầm đường, bữa thì cốc nước dừa non… 
Nắng hè làm dậy hương kí ức - thứ kí ức được cất ủ qua tháng năm và vẫn chực toả hương nồng say cho những kẻ hoài cổ như nàng. 
Hứng nắng một vòng về, nhìn vào gương thấy gương mặt đỏ au, đôi cánh tay ửng hồng ăn nắng. Nàng mỉm cười nghĩ bụng, dù sao, nàng vẫn giữ được chút nắng quê trên làn da bánh mật mẹ sinh.

Chàng Voi sáu múi

Thằng cu Muống từ hồi Halloween học được bài vè:
 Pumpkin, pumpkin
Round and fat
Turn into a jack-o-lantern
Just like that!
Cu Muống khoái lắm, đọc xong còn “Bùm!!!” một phát nữa rất
biểu cảm. Cu Muống đọc hoài đọc huỷ bài này thuộc nằm lòng suốt mấy tháng giời,
tự nhiên hôm qua, cậu chàng ngồi ngắm bố rồi ngâm ngợi:
Daddy, Daddy
Round and fat
Turn into a jack-o-lantern
Just like that!
Bùm!
Vợ chàng Voi nghe thế thì cười té ghế, chàng Voi cũng cười
một chặp rồi tự sờ nắn chân tay và xoa bụng, xị mặt ra bảo vợ: “Độ này anh tập
thể dục, béo đâu mà béo, em nhỉ?”. Nói rồi chàng từ bàn ăn phi thẳng ra phòng
khách tập thể dục. Thằng cu Muống thấy mấy câu vè của nó có vẻ phát huy tác dụng
tốt (Daddy đang ngồi ăn cơm nhảy ra làm trò) nên càng đọc tích cực. Vừa đọc vừa
cười ngặt nghẽo. Chàng Voi hung hăng tập tành một lúc thì vén áo lên hỏi vợ:
“Em thấy sao?” Vợ chàng đang ăn cơm suýt nghẹn, nhưng vẫn nhanh trí bảo: "Anh cố
lên, sắp được 6 múi rồi đấy! Em thấy 4 múi rồi, cố lên, còn 2 múi nữa là ngon!”
Chàng Voi nhẹ dạ bảo, đến mùa hè này là đủ 6 múi đấy em ạ!
Thôi, thế là đến mùa hè, nếu có viết gì về chàng thì vợ
chàng lại phải tốn công gõ thêm 2 chữ. Vì đến lúc đó, chàng sẽ là chàng Voi 6
múi! 

Chuyện đóng đinh của chàng Voi

Cách đây hai năm rưỡi, ngay trong tuần đầu tiên đến Berkeley, chàng Voi đã tha vợ bầu lượn tìm bằng được mấy cái giá sách (thứ cấp thiết nhất đối với chàng trong mọi lần chuyển nhà). Mua xong, chàng dõng dạc: Anh phải đóng đinh mấy cái giá sách vào tường, vì lỡ có động đất thì nguy hiểm. Vợ chàng (lúc đấy chưa biết động đất là gì) ừ hữ cho xong. Rồi chả thấy chàng đả động gì đến, vợ chàng cũng kệ. 
Một tháng sau, nửa đêm có động đất, vợ chàng Voi vừa sinh con nên hơi hoảng hốt ôm chặt lấy cu Muống, định bụng sẽ nhắc chàng vụ đóng đinh mấy cái giá sách. Nhưng với bản tính điếc không sợ súng, vợ chàng quên béng ngay vụ động đất đầu đời và dĩ nhiên quên luôn việc nhắc chàng. Chàng Voi nhấp nhổm hô khẩu hiệu vài bữa rồi cũng chả thấy làm gì. 
Một năm sau, nhân một hôm dọn giá sách vì nó bị quá tải với lượng sách ùn ùn từ Amazon chuyển về nhà chàng Voi, chàng lại nhìn vợ ánh mắt vô cùng quả quyết: "Anh phải kiếm đinh đóng mấy cái giá sách vào tường em ạ, thế này, nguy hiểm lắm!". Vợ chàng nhìn cái giá sách quá tải, nghĩ đến cái đoạn bất thình lình nó đổ một cái thì nhắm tịt mắt không dám nghĩ tiếp, bảo chàng: "Anh nghĩ phải". Lần nào đi Target shopping, vợ chàng cũng loay hoay chỗ bán đinh để nghiên cứu xem loại nào thì phù hợp. Vợ chàng mua một đống các thể loại đinh về, khoe với chàng rồi tặc lưỡi đợi chờ. Bọn đinh đến giờ vẫn nằm yên chí trong túi bóng, vì vợ chàng không biết khoan. 
Một năm tiếp theo, thi thoảng, vợ chàng thấy chàng nhảy cẫng lên quát con: "Hey, get out of there" khi thấy chúng nó tình cờ xớ rớ đứng dưới một trong 4 cái giá sách to tổ chảng choán hết khắp ba bề bốn phía nhà chàng. Rồi chàng thở dài não nuột, nhìn vợ, bảo: Anh phải đóng đinh… Vợ chàng nhìn chàng, vẻ thông cảm, bảo: "vầng, em biết". 
Hôm nay, sau hai năm rưỡi sống trong lo sợ rồi vì bận mà quên mất lo sợ, chàng Voi đã rước về nhà một anh thợ đóng đinh. Anh ta bắc thang leo lên xoẹt xoẹt mấy nhát, rồi đưa cho chàng cái hoá đơn 138$ tiền công. Chàng cười rạng rỡ gửi thêm cho anh ta mười mấy đồng tiền tip rồi bắt vợ ra ngắm nghía từng cái đinh. Vợ chàng (lúc đó chưa biết đến cái hoá đơn) đứng trầm trồ một chặp. Ngó đến cái hoá đơn, vợ chàng lại phải vận công nén tiếng thở dài. 
Nhìn chàng Voi cười nhẹ nhõm, tíu tít nói cười, rằng thì mà là từ bây giờ, bọn trẻ con chơi dưới giá sách anh không lo nữa, từ bây giờ, có động đất cũng chả sao… Vợ chàng không khỏi cảm động. Cảm động xong, vợ chàng bắt đầu suy tính đến đoạn từ nay đến cuối năm, làm gì thì làm, nàng cũng phải học bằng được nghề "tháo đinh", kẻo lại mất chừng đó tiền cho một ông thợ tháo đinh, khi nhà nàng dọn nhà đi nơi khác. :)

Thursday, September 11, 2014

Chuyên của Ben

Ben 27 tuổi, lớn lên trong một gia đình trí thức và có niềm đam mê âm nhạc từ bé. Cha mẹ cậu đã cho cậu học đàn piano từ khá sớm. Thời trung học, cậu từng là ngôi sao ở trường vì tài chơi piano và guitar. Vào đại học, Ben theo đuổi ngành âm nhạc trong hai năm đầu tiên, nhưng rồi cậu bỏ ngang vì tự cảm thấy thiên hướng âm nhạc của cậu không đủ để làm nên sự nghiệp danh phận gì. Rồi Ben quyết định chuyển sang học ngành Chính trị học và ra trường với tấm bằng cử nhân Chính trị học.
Năm 26 tuổi, Ben lấy vợ - một cô bạn gái từ thời học phổ thông, tốt nghiệp đại học ngành múa và quay về sống tại quê nhà – thành phố nhỏ Roscheter thuộc bang New York. Nếu câu chuyện chỉ có vậy, tôi sẽ không quá để ý đến Ben, vì dù rằng đời sống hiện đại khiến thanh niên Mỹ có xu hướng lập gia đình muộn và sống xa quê nhưng vẫn còn không ít người sống kiểu cố điển như vợ chồng Ben.
Điều đáng kể là: sau khi cưới nhau ở quê nhà, vợ chồng Ben quyết định trở thành nông dân. Họ mua đất làm trang trại, chủ yếu là trồng trọt và cũng chăn nuôi thêm ít gia súc gia cầm. Đôi vợ chồng trí thức và có hơi hướng nghệ sĩ ấy đã bắt tay vào công việc đồng áng như những người nông dân thực thụ, dù cha mẹ họ, ông bà họ chưa từng đụng đến việc nhà nông.
Điều gì đã khiến những người thanh niên trí thức trẻ tuổi ấy muốn làm nông dân, vui thú với đồng đất, cỏ cây? Đó là câu chúng tôi hỏi nhau và tự hỏi mình khi nói về Ben.
Ben trẻ quá nên bồng bột chăng? Chắc là không, bởi chỉ một người biết suy nghĩ thấu đáo về tương lai mới bỏ ngang việc học nhạc khi nhận ra tài năng không đủ làm nên sự nghiệp xuất sắc. Tìm hiểu thêm, tôi được biết vợ chồng Ben đã bắt đầu có hứng thú với việc nhà nông bởi họ quan tâm đến vấn đề thực phẩm và môi trường. Bố mẹ vợ của Ben có một nhà hàng khá nổi tiếng trong vùng và đó là nguyên cớ để họ suy nghĩ nhiều đến chuyện thực phẩm. Vợ chồng Ben muốn xây dựng một mô hình trang trại không chỉ cung cấp thực phẩm sạch cho mọi người mà còn nhằm cải tạo môi trường, xây dựng một lối ứng xử lành mạnh với môi trường, góp phần bài loại những thực phẩm có chứa các hoá chất nhân tạo.
Trang trại của vợ chồng Ben mới đi vào hoạt động được hơn một năm, nhưng cặp vợ chồng nông dân - trí thức ấy đã tạo lập được một quy trình sản xuất – tiêu thụ rất hiệu quả. Họ có một nhóm khách hàng lớn trong thành phố chỉ dùng rau củ quả và các nông phẩm từ trang trại của họ. Nhóm khách hàng này thay phiên nhau đi xe ra tận trang trại của vợ chồng Ben ở vùng ngoại ô mỗi cuối tuần để lấy nông phẩm cho cả nhóm. Mùa nào, thức nấy, rau củ quả sạch không hoá chất và đảm bảo tươi ngon được mọi người ưa dùng nên họ không ngại tự đảm nhận khâu vận chuyển. Ban đầu, nhóm khách hàng này là những bạn bè thân quen của gia đình Ben, rồi tiếng lành đồn xa, nhiều người biết tiếng cứ thế tham gia vào nhóm, mở rộng thị trường. Ngoài ra, trang trại của Ben cũng thường xuyên cung cấp nông sản cho một số nhà hàng lớn trong thành phố.
Đôi vợ chồng trẻ ấy đang tận hưởng cuộc đời nông dân thực thụ: ngày ngày làm việc ngoài đồng, những tối cuối tuần chơi nhạc ở một vài quán rượu trong vùng để kiếm thêm thu nhập. Họ được dân trong vùng yêu quí và nể phục vì đã chọn niềm vui sống hoà đồng với Mẹ tự nhiên, vì đã dám sống như họ muốn.

Nghe câu chuyện của Ben, tôi không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến những mục tiêu giáo dục của nước nhà. Ở Việt Nam, liệu có cử nhân nào có đủ đam mê và dũng khí bước qua những định kiến hãnh tiến của xã hội về nghề nghiệp để quay về với thú vui đồng ruộng, để học lại những bài học sơ khai nhất với Mẹ tự nhiên?
Ảnh: một biểu ngữ giăng trong khu vườn nổi tiếng ở Berkeley - vốn là khu vườn của một nhà hàng nổi tiếng bậc nhất trong thành phố, được một trường tiểu học trông nom để học sinh có dịp quan sát và học hỏi về tự nhiên. 

Saturday, August 16, 2014

Câu chuyện lá cờ

Sau vài ngày dạo chơi ở Berkshire – một cao nguyên xinh đẹp, thanh bình, nơi nghỉ dưỡng nổi tiếng thuộc vùng New England nước Mỹ,  bọn trẻ con nhà tôi nảy ra một trò mới khi ngồi trong xe: đếm cờ. Hai chị em tranh nhau tìm và đếm từng lá cờ Mỹ chúng thấy trên đường đi, và chúng mặc định với nhau: lá cờ ở phía nào thì thuộc về đứa ấy, rồi chúng so đo, tị nạnh nhau xem đứa nào tìm thấy nhiều cờ hơn. Cứ thế, sau hai tuần, trò đếm cờ thành thói quen của bọn trẻ con trên xe ô tô thay cho việc ngủ gật.
Không phải ngẫu nhiên mà đến Berkshire, bọn nhóc lại nghĩ ra trò đếm cờ. Chuyện là khắp vùng Berkshire, từ thị trấn Stockbridge cho đến Housatonic, từ Great Barrington cho đến Lenox, từ Pitfield cho đến Springfield... đâu đâu cũng thấy giăng đầy cờ Mỹ. Không chỉ ở các toà nhà công vụ, hành chính mà ngay cả các khu shopping, các tiệm ăn, cửa hiệu trong phố cho đến nhà riêng, dân Berkshire đều trang trọng treo cờ ngay trên nóc nhà. Có những gia đình còn dựng hẳn một cột cờ riêng trên bãi cỏ xanh mướt mát trước nhà. Nhìn những lá cờ của xứ sở cờ hoa bay ngạo nghễ trong gió, trên từng nóc nhà dân, trong từng con đường mòn xuyên sâu trong rừng, tôi không khỏi chạnh xót khi nghĩ về lá cờ tổ quốc tôi trong những tranh luận triền miên không dứt của hai phe cờ đỏ cờ vàng.
Tôi nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng mà mẹ tôi mang từ chiến trường về, thời mẹ đi thanh niên xung phong. Hồi cấp 1, cứ đến mùa khai giảng là tôi lại sung sướng được mẹ cho phép cầm lá cờ ấy đến trường. Lá cờ thơm tho mẹ giặt kĩ rồi gấp cẩn thận cho vào ngăn tủ như bảo vật. Tôi bé bỏng thuở ấy không biết gì nhiều, chỉ lờ mờ cảm đoán rằng, lá cờ ấy không chỉ là một lá cờ chung chung như trong thơ trong nhạc vẫn ra rả trên tivi mỗi ngày lễ lạt. Lá cờ đã bạc màu ấy là thời tuổi trẻ khốc liệt của mẹ, với những kỉ niệm chiến trường đau thương. Tôi biết nó quý báu nên dù mang cờ đến trường, tôi không bao giờ cho đứa bạn nào sờ đến cái cán cờ của tôi. Tôi còn ghi nắn nót tên mình lên một góc lá cờ, sợ nhỡ đâu bị lẫn mất lá cờ của mẹ. Hết mùa tựu trường, mẹ tôi lại giặt cờ, gấp cẩn thận cho vào ngăn tủ, đợi bao giờ đến ngày nghe loa của xóm thông báo phải treo cờ mới mang ra gá tạm vào đầu hồi, qua ngày cần treo lại giặt, gấp và trả nó về ngăn tủ. Có lẽ, mẹ tôi thích giữ kỉ vật ấy trong ngăn tủ hơn là giăng nó ra đầu hồi, cũng giống như người ta vẫn thích giấu những kí ức buồn bã vào đáy tim hơn là phơi ra trước miệng thế gian. Lá cờ ấy, mẹ tôi muốn giữ hơn là muốn khoe, tôi tin thế!
Tôi (và chắc là tất cả những người cùng thế hệ tôi) không có lá cờ kỉ vật như mẹ. Và chúng tôi hầu như không có khái niệm gì đặc biệt về màu cờ tổ quốc, vì với chúng tôi, lá cờ đỏ sao vàng chỉ đơn giản tượng trưng cho quê hương đất nước. Nó là lá cờ được giăng lên trong mọi nghi thức quốc gia, mọi cuộc giao lưu quốc tế để nhận diện nước Việt Nam. Chúng tôi không đọc ra bất kì ý nghĩa đảng phái nào trong lá cờ quen thuộc ấy, ngay cả khi mồm vẫn hát làu làu lời một bài hát rất giàu chất cách mạng:
Hồng như màu của bình minh

Đỏ như màu máu của mình tim ơi

Búa liềm vàng rực giữa trời

Là niềm hy vọng chói ngời tim ta


Trong đêm tối lúc mưa sa

Màu cờ đỏ vẫn sáng loà hồn tôi

Thênh thang trên bước đường đời

Ôi màu cờ ấy là màu giục tôi.


Thênh thang trên bước đường đời

Ôi màu cờ ấy là lời giục tôi.
 (Màu cờ tôi yêu, thơ Diệp Minh Tuyền, nhạc Phạm Tuyên – tôi vừa hỏi anh Google chứ thực lòng chả nhớ, dù mồm vẫn có thể hát nhem nhẻm được)
Và dĩ nhiên, vì chẳng có khái niệm gì đáng kể về màu cờ Việt Nam nên màu cờ ấy cũng chả “giục” gì được tôi. Ngoài lá cờ của mẹ, những lá cờ đỏ sao vàng khác với tôi chỉ là một vật trang trí trong những ngày lễ lạt, chỉ là một vật bắt buộc phải có để khi nào nghe loa của xóm thì treo cho có lệ hoặc để cho đám trẻ trâu có cái mà phất trong những cuộc cổ vũ bóng đá nhiệt tình. Và chắc là nhiều người cũng nghĩ như tôi, thế nên ở Việt Nam, tôi nào có thấy nhà ai treo cờ quanh năm suốt tháng hay dựng riêng một cột cờ trang trọng trước sân. Lá cờ - biểu tượng thiêng liêng của quốc gia dân tộc dường như vẫn chỉ là thứ thuộc về tinh thần hô hào đám đông chứ chưa phải là biểu tượng gắn bó máu thịt với từng tâm hồn người Việt. Thế nên, hành động treo cờ ở Việt Nam cũng chỉ là một hành động mang tính tập thể chứ chưa đạt đến trình độ ý thức cá nhân.
Gần đây, theo dõi những cuộc tranh luận nảy lửa về màu cờ giữa các phái cờ vàng cờ đỏ, tôi càng có dịp để tự ngẫm lại ý thức về lá cờ của chính mình. Càng ngẫm, tôi càng tin rằng, vì đa phần người Việt chưa đạt đến cái ý thức cá nhân cao độ trong chuyện cờ quạt, nên việc gán ghép những ý đồ, ý nghĩ Đảng phái vào việc sử dụng màu cờ nào là chuyện “mua chạc mũi trước trâu”. Hãy cứ đợi đến khi thấy cờ đỏ sao vàng tung bay trên các nóc nhà Việt Nam, trên từng con đường, góc phố, khắp mọi hang cùng ngõ hẻm, do chính tay chủ nhân ngôi nhà đó tự nguyện treo lên chứ không phải do thúc ép của bất kì cái loa phường xã nào, lúc đó, tranh luận tiếp may ra mới hợp lí vì đã sẵn trâu để buộc thừng vào mũi.

Trong nỗi băn khoăn về lá cờ tổ quốc, tôi hỏi bố chồng: Tại sao ở Mỹ có nhiều nhà treo cờ trang trọng thế? Ông trả lời: đơn giản vì họ yêu nước, họ yêu lá cờ tổ quốc và họ muốn thể hiện tình yêu lí tưởng của mình. Tôi nghĩ thầm: đến bao giờ, thứ tình yêu lí tưởng ấy sẽ xuất hiện trên quê hương xứ sở nhiều đau thương chia cắt của tôi, để người ta chen vai đứng dưới cùng một ngọn cờ không tị hiềm, đấu đá…
Ảnh: Hai cụ già mặc áo cờ Mỹ trong ngày quốc khánh